Tìm kiếm Blog này

Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
TIỀN BẠC CHI TIÊU RỒI CŨNG HẾT, CHỮ ĐỂ MAI SAU NGHĨA MÃI CÒN
Hiển thị các bài đăng có nhãn ÍCH HỮU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ÍCH HỮU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

ÔNG CHƯỞNG... GIÁO



Người cùng phố vẫn quen gọi ông là ông Chưởng Tình, nhưng từ sau hôm ông làm… lễ động phòng thốt nhiên ông ấy mất hẳn tên, rồi đi đến đâu ông cũng thấy người ta thì thầm… gọi ông là ông Chưởng Giáo.
Nhận đích mình không làm nghề gõ đầu trẻ bao giờ, lần đầu ông Chưởng Tình còn cho là người ta cợt ghẹo.
Nhưng quả không, những người có tiếng là đứng đắn xưa nay như ông cụ thân sinh ông cũng gọi ông là “cậu Giáo” thì không lẽ ông cụ nhà ông cũng chế giễu ông!
Sự thay bực đổi ngôi ấy thật đã làm rối trí ông Chưởng Tình.
Thì mãi một ngày kia ông mới “khám phá” ra rằng người ta đã lấy chức nghiệp của vợ ông mà gán cho ông, nhưng độc bụng, không bảo trước cho ông biết.
Muốn tỏ lòng biết ơn người vợ đã mua danh diện cho mình, ông Chưởng Tình nhất định ở ra một ông chồng ngoan ngoãn, lễ phép. Sự tôn trọng, sự mến yêu ấy, ông đem bày hết ra trong mọi việc, những việc hàng ngày của ông.
Mới mờ đất, còn mắt nhắm mắt mở, ông vội choàng dậy, khẽ rón mười đầu ngón chân xuống đất, bước ra khỏi giường. Chưa kịp súc miệng, ông đã đánh thức người nhà dậy đun nước, sửa soạn món ăn lót lòng, rồi tự ông xếp trước ra bàn đủ phấn, son, gương, lược.
Muốn bà giáo Chưởng chẳng nhỡ giờ, hay nói cho đúng, muốn bà được ăn ngon, ông Chưởng… Giáo nhường để bà ăn lót dạ trước. Chừng ông nghĩ: mình ở nhà thì dạ dầy cần gì phải có cái lót, nên cầm đôi đũa dở của bà Giáo Chưởng, ông Chưởng… Giáo chỉ đưa lên gậm nốt mất cái xương.
Ở trường, bà Giáo ngồi vào bàn dạy học, thì ở nhà, ông Giáo cũng lên giường học – học cách đo giường! Những truyện thần tiên, những truyện kiếm hiệp được ông đem ra làm món ăn lót lòng thêm để chờ đến giờ tự tay ông kê lấy thực đơn cho người ra chợ mua thức ăn bữa sáng.
Cơm trên bếp úp nồi rồi, giờ ông Chưởng… Giáo chờ mong là giờ nhà trường tan học.
Thoáng thấy bóng bà Giáo về, ông Giáo đã vui mừng hí hửng, quấn quýt như một đứa bé con.
Ngồi vào bàn ăn, chưa kịp miếng thứ nhất, ông đã có một câu chuyện “làm quà” cho bà vui lòng. Ông khoe với bà con mèo nhị thể bên hàng xóm vừa đẻ được hai con mèo con, mỗi con có đủ cả hai mắt, hai tai và bốn cẳng!
Đỡ tăm nước cho bà rồi, ông còn thu dọn cho bà làm la-xiết.
Rồi buổi chiều cũng như buổi sáng, ông lại lên giường “học” truyện kiếm hiệp để và lên xe đến dạy học ở trường.
Những chiều tạnh ráo, ông chải đầu thật mượt, bận bộ áo tây thật mốt, đến cửa trường đón bà trước lúc buổi học tan. Ông khua can, huýt còi miệng, đi tản bộ quanh trường, cặp mục kỉnh long lanh, trông đúng cách một nhà mô phạm.
Đỡ tay bà len lỏi đi trong các phố đông, ông cố nhận những cái chào của các học trò bà, rồi nhìn dọc nhìn ngang, lấy sự được người chào làm vinh hạnh. Ông cất tiếng thật to chào lại các học trò, chớ không làm như bà là khẽ nghiêng đầu đáp, định bụng để ai cũng phải nghe tiếng và cũng để ý nhìn ông.
Ngoài những việc hàng ngày ấy, ông Chưởng… Giáo còn có cả những việc hàng tuần, hàng năm.
Mỗi tuần lễ, ông giúp bà làm ngót trăm cái tính cộng, cộng sổ nốt của các học trò một lần; mỗi năm một lần ông thu cất những bài chúc văn của học trò đọc mừng bà, viết trên những tờ giấy vẽ lòe loẹt cành hoa, con bướm.
Ông Chưởng…. Giáo chẳng như phần nhiều người, lấy sự sợ vợ làm thẹn.
Ông cho rằng người nào nhà “có phước” mới có số thân cư thê thiếp, lại ra ý khinh bỉ những kẻ “vô phước”, lấy phải những “con vợ” ngu đần!
Ở con mắt ông, bà Giáo… Chưởng là một “mảnh giấy giá thú sống”chứng nhận bà đã có chồng, một anh thợ nặn thật thà và ngoan, một bố máy chế hóa các thực phẩm ra… phân và tiêu thụ những truyện thần tiên, kiếm hiệp.
LINH PHƯỢNG
(Tác phẩm đăng trong mục Tập Ảnh, báo Ích Hữu số 2 ra ngày 25 Février – 2 Mars 1936)
© 2012 Blog NXB Tân Dân

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

TÔI MỚI THẤY BÀ



Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

Cái ngày mà ông ấy bắt được quả tang bà ấy “nói chuyện” với trai ngay ở trong buồng đến nỗi hai người đánh nhau một trận ra tuồng mà bà con ta xúm đông xúm đỏ ở trước cửa để xem, thì ai tưởng đâu có ngày nay, ông bà ấy lại hòa hợp vui vẻ được nhỉ!
Hẳn cũng chửa ai quên được cái câu đau đớn mà bà ấy mỉa chồng. Phải bà ấy gọi lũ con nhỏ ra đứng trước mặt, rồi trợn mắt, nghiến răng ken két, chỉ tay và nói:
- Đừng hợm! Tưởng cái mặt ấy mà đẻ nổi những con như thế này phải không?
Ấy mới nguy! Thế ra thằng Lê, con Lý, thằng Đào là con ai kia đấy! Trong khi quá giận, bà ấy đã vô tình công khai cái lý lịch hay ho!
Khốn nạn, lũ trẻ con chẳng hiểu chuyện gì, chúng nó thấy ba và má cãi nhau, thì sợ hãi, rồi dần dần, lần ra sau nhà đánh đáo.
Mà khốn nạn hơn nữa là lúc ông ấy được nghe câu nói ấy. Thật chẳng khác gì là bị tiếng sét đánh ngang tai. Ông ấy rú lên một tiếng, rồi gục đầu xuống bàn huh u khóc.
Thật là một sự ông ấy chẳng ngờ. Mà bà con ta cũng chẳng ai dám ngờ là lũ con ấy chẳng phải ông có công đúc cốt. Phải, đèn nhà ai nhà nấy rạng, chứ ai rỗi hơi mà xem xét đến những cái không quan hệ đến mình. Ta có biết gia đình ấy, thì họa chăng từ khi ông ấy bổ về tỉnh nhà, ta chỉ biết ông ấy khinh người bằng nửa con mắt, bà ấy hợm hợm chảy ra mà thôi. Chứ còn cái thằng Lê, con Lý, thằng Đào, với cái hạnh kiểm đáng phục của bà ấy, thì không mồm bà ấy phun ra, có họa thiên lôi biết!
Mà thật, những đứa bé con nhà ông ấy đứa nào cũng phốp pháp, mũm mĩm, tươi tỉnh, thật trái với ông ấy, đã gầy như cái que, mà mặt mũi lúc nào cũng khó đăm đăm, nhăn nhó như cái thằng đau bụng. Nhưng ta có thể tưởng là những đứa trẻ ấy giống máu mẹ, vì bà ấy là một “con bò cái chắc chắn” béo nùng nục, nhất là đôi môi, vừa ướt vừa dầy. Gia dĩ bà ấy đẹp, và thích trẻ. Năm ấy đến bốn mươi tuổi đầu rồi chứ còn ít gì, thế mà vẫn còn làm đỏm như cô con gái thèm chồng. Thấy người ta quần trắng, bà cũng quần trắng, thấy người ta rẽ bên, bà cũng rẽ bên. Nhưng, lạy thành […] chứ khi bà ấy ăn mặc, đánh phấn […] thì ngay ngoan ngoãn như tôi đây, cũng phải trố mắt, ngây người mà nhìn và nuốt nước dãi. Đẹp thật!
Nhưng mà ông ấy có kém vẻ tân thời chút nào đâu? Bà rẽ lệch thì ông cũng rẽ lệch. Bà áo xa-tanh xúp dài gần tới mắt cá, thì ông cũng áo xa-tanh xúp dài xuống đến bắp chân. Bà quần trắng thì ông cũng quần trắng. Thua gì? Mà ông lại còn tiến hơn bà một bậc, là ông để răng trắng và có cả áo ba-đờ-xuy nữa. Thế thì bà không cảm ông, thì cảm ai?
Nhưng than ôi! Ông ấy cũng tân thời lắm đấy, nhưng không phải! Những hàm răng trắng, những đầu rẽ lệch, những quần trắng, những áo thướt tha dài, mà ở đàn bà, thì nó thành ưa nhìn, chứ mà đàn ông chúng ta, nhất là hạng thiếu niên ta, sống trong thể kỷ thứ hai mươi này, mà còn giữ mãi bộ áo quần quốc túy, thì ăm thưa gì? Có khi mặc thế mà đi hỏi vợ, thì Cẩm tha phạt cho đã là tốt phúc đấy!
Đối với những bà vợ ấy, thì ông chồng phải béo, tốt, khỏe, đẹp, vui vẻ, trung thành, vân vân, vân vân, mà bề ngoài phải mặc quần áo tây đầu chải thật bóng, râu ria cạo cho nhẵn thín, lúc nào cũng phải có cặp kính đồi mồi nó nhong ếp trên sống mũi. Nghĩa là vừa có vẻ hung hồn, vừa ra nhà học giả. Chứ mà lủn củn lùn cùn như ông ấy thế kia thì “về”!
Bởi vậy chẳng được chồng béo, tốt, khỏe, đẹp, vui vẻ, trung thành, mà đến cả cái vân vân vân vân, cũng chẳng có, nên chắc rằng bà phải sưu tập một vài người chồng dự khuyết, để khi ông có việc đi vắng nhà là bà cho mời đến đánh tổ tôm, hút trứng la-coóc, rồi vô phép ông Tơ!
Ờ! Thế mà tài thật! Những cuộc ái tình vụng trộm  ấy có phải nó đi không để lại dấu vết đâu mà anh chồng không biết nhỉ! Kìa! Thằng Lê, con Lý, thằng Đào, là ba cái chứng cớ; trước kia, chúng nó chửa ra đời, thì bà ấy còn giấu giếm ở tận đáy lòng, nhưng một ngày bụng dạ bà ấy  một rõ rệt ra, rồi mà có lẽ vì ông vẫn không ngờ vực vợ, nên tức mình, chúng nó mới dần dần rủ nhau chui tọt cả ra ngoài cho ông xem để ông hiểu!
Nhưng vì ông không hiểu: cái nghĩa bóng của sự đẻ con, nên ông yêu chúng nó hết sức, và khi thấy vợ diếc móc mình không đẻ nổi lũ con như thế, ông mới như nghe tiếng sét đánh ngang tai!
Rồi cũng vì câu nói đó, mà ông làm đơn xin ly dị vợ, và trong khi đợi tòa xử, ông còn ốm, ốm đến mấy tháng, tưởng chẳng còn sống được đến ngày nay.
Thương hại quá! Ngày ấy ông ốm có mỗi một mình, chẳng có ai trông nôm săn sóc cho cả, vì vợ ông, chẳng đợi gì pháp luật, ngay sau khi mắng chồng câu ấy, bà quát con Sen xếp va ly quần áo để ra ga, về Hà Nội. Trước khi lên xe, bà vẫn còn giận lắm, bà nhìn ông thổn thức, bà cười gằn, rồi nguýt một cái đến dài và nói:
- Để bà xem đứa nào cần đứa nào!
*
Rồi chẳng biết tòa không chiều ý ông, hay đứa nào cần đứa nào, mà sau ta lại thấy bà xách va ly cùng về với ông, hai người vui vẻ hòa hợp ở với nhau, thân mật như đôi tình nhân còn đương kỳ thề sống thề chết về danh dự.
Trông về ngoài gia đình ấy, đố ai không biết mà đoán được rằng nó đã có lần xuýt nữa thì tan nát, vợ một nơi, chồng một nẻo, mấy đứa con thì đầu đường xó chợ bơ vơ.
*
Nhưng trời già thật độc địa! Giữa cái lúc vợ chồng người ta đương hưởng cái lạc thú, đêm đềm của cảnh gia đình, thì ông Xanh đem ngay một cái tai vạ tầy đình đến. Ông ấy bị bắt quả tang làm một việc phi pháp.
Thôi hỏng! Phen này không tù cũng mất chức. Mất chức thì túng! Túng thì đói! Đói thì khổ to! Ấy thế mà còn tù thì, trời ơi! Mất vợ, mất con, mất cả cái để khói hương sau lúc chết!
Nghĩ đến tương lai, ông lo, ông hối hận, ông khóc lóc, rồi phát sốt phát rét, rên khừ khừ!
Suốt mấy ngày đêm, ông không ăn, không ngủ, ông nằm dí trên giường, như người ốm đợi chết đến nỗi bà phải gắt:
- Thì ông cũng phải dậy mà bàn tính công việc,, chứ chịu chết à?
Ông gượng ngồi, nhưng không đủ sức để dựng nổi cái lưng còm rỏm, ông bèn mặc kệ nó rơi lả xuống giường, rồi nhắm mắt, nói như mê sảng:
- Thôi, tội sờ sờ ra đó, còn làm gì được nữa.
Bà đập tay xuống bàn, cau mặt:
- Đàn ông mà hèn thế! Mới có thế đã hết vía lên rồi!
Rưng rưng nước mắt, ông run rẩy, đưa tay ra để nắm tay vợ và nói:
- Bà có nghĩ hội tôi cách nào không!
Bà ngắm chồng mà thở dài. Bà lắc đầu chép miệng, rồi tiến lại gần hơn, dịu dàng nói:
- Nếu ông cứ mặc tôi để tôi lo lắng, thì mười phần có thể chắc được chín rưỡi.
Mở choàng mắt ra, ông ngồi nhổm dậy ngơ ngác nhìn như tìm vị phúc tinh, rồi ngạc nhiên, hỏi vợ:
- Bà vừa nói gì?
- Nếu ông cứ mặc tôi để tôi lo lắng, thì mười phần có thể chắc được chín rưỡi.
Ông mừng rỡ, trợn mắt rõ to để chòng chọc nhìn vợ:
- Bà nói thật?
Bà quả quyết, gật đầu:
- Tôi chắc thế.
Ông nắm chặt tay bà, năn nỉ:
- Thế thì phúc nhà ta còn vượng. Sao bà không bảo ngay từ hôm nọ?
- Nhưng biết ông có bằng lòng giao cho tôi việc này không?
Gật lấy gật để, ông run run đáp:
- Sao không bằng lòng? Không bằng lòng để mà chết à?
*
Cuối năm ấy, một hôm, người ta thấy ông ngồi bên cạnh vợ bế đứa con mới đẻ.
Nhưng các ngàu đừng tưởng gia đình nhà ông đã trải qua cuộc tang thương đâu nhé. Này vẫn hoành phi, câu đối, này vẫn sập gụ, tủ gương, bao nhiêu vẻ choáng lộn, bao nhiêu vẻ đài các ngày trước hiện nay vẫn còn, mà thằng Lê, con Lý, thằng Đào bây giờ chiều chiều lại nhảy lên ô tô cho anh Tài vận đi về vùng nhà quê đổi không khí. Nghĩa là không có cái gì mất mát cả, mà ông bà ấy nhờ trời còn thêm được mụn con trai.
Ông ấy bế con, âu yếm, hôn hít bộ tóc vàng như tơ của nó, rồi nhìn vợ. Bà mỉm cười, khép lại cái ấp cho kín bụng thằng bé.
Bỗng ra vẻ nghĩ ngợi điều chi, ông ngậm ngùi thởi dài, rồi trông trộm vợ. Ngạc nhiên, bà hỏi một cách âu yếm:
- Ông có điều gì nghĩ ngợi?
Vẫn chưa thấy chồng trả lời, bà véo von ngâm:
- Đẻ ra, con thiếp, con chàng, con ai?
Ông mỉm cười, lắc đầu:
- Không phải, tại tôi nghĩ hối hận cái ngày dại dột làm giấy ra tòa độ trước!
Bà lườm yêu ông rồi mỉm cười.
Ông cũng mìm cười, hôn tóc, rồi nắm chặt tay vợ, gật gù đáp:
- Thoát được cái nạn năm ngoái, tôi mới thấy bà là có giá trị thật!
NGUYỄN CÔNG HOAN
(Tác phẩm đăng trên báo Ích Hữu)
© 2012  Blog NXB Tân Dân

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

QUAN LANG.... LỚN!



Tuy nổi cơ đồ về nghề bán thuốc ho, hen, tuy đã xử nhẹ với những người cùng chung huyết mạch với mình để chiếm lấy hai môn thuôc tổ phụ di truyền, nhưng ông Ba Bồ chẳng bao giờ chịu nhận mình là ông lang, mặc dầu thiên hạ vẫn coi ông là một ông lang danh tiếng.
Sự thật thì ông Ba Bồ cũng không có chút gì là “lang dạng”. Hai má phinh phính bánh đúc, bộ mặt tròn trĩnh như bánh dày bày mẹt, mép với cằm nhẵn thín, gần 40 tuổi mà ông còn hơ hớ như con trai trẻ măng.
Một tiếng Tây không biết, chữ Nho cũng ù cạc, nhưng ông mặc ta thì ra vẻ “nho đạo” mà diện tây cũng đúng “mốt A-đam”. Vì không có một luật lệ nào bắt người dốt nát phải ở truồng, nhất người dốt nát ấy lại là người nhiều tiền, nên bọn thợ may tha hồ đè ông ra mà đo, cắt.
Hai bàn tay trắng nuột của ông nó làm chứng cho rằng ông không bao giờ phải viên thuốc hay tán thuốc! Có lẽ ông Ba Bồ cho hai việc ấy là việc làm đê tiện nên không  tiện dịp nào có thể phô được mà ông khong phô hai bàn tay ông.
[…] người ta thấy ông đem bày cả ra tận ngoài đường. Hai bàn tay bắt chéo lên nhau rồi khẽ đặt giữa lòng, chẳng phải là biểu hiện của sự tương thân tương trợ […] hoặc trọng tình con bệnh với thày lang, vì đối với người bệnh, ông chỉ biết bóp cổ lấy tiền mà đối với thân thíc họ hàng thì ông mất lần lôi họ ra đe nẹt.
Khắc hẳn các bạn đồng nghiệp của ông đi bán thuốc ho hen, thuốc sài đẹn dong đường, ông Ba Bồ không có dây đeo lưng hay tay nải xách. Cả đến thuyền tán, ô kéo, dao cầu, ông cung không có nốt! Tủ kính hàng ông chỉ bày toàn liễn; giá ngoài hiên ông không yết bảng bán thuốc, thì người qua đường tất phải lầm nhà ấy là một cửa hàng bát liễn hay một… viện bảo tang!
Không sành chơi đồ sứ cổ nhưng thức gì người ta bảo là cổ, ông cũng cố mua cho được, vì ông cho chơi như thế là cách chơi của con nhà dòng sang. Cái sang ấy người ta thấy ông bày la liệt khắp nhà, la liệt khắp tường, ở những thống lớn, đèn con, đĩa tấc, đĩa thước.
Sự giàu sang, ông có thừa nhưng ông vẫn thèm muốn một chút danh, ngoài cái danh của nghề làm thuốc. Trong trí ông, một thày lang không bao giờ bằng một quan huyện nên ông thường dịch phục để tập cho có những dáng điệu và cử chỉ của các bậc phụ mẫu dân.
Những ngày khánh tiết, những dịp thành phố đưa đón các bậc thượng khách, chẳng có giấy người ta mời dự, ông cũng chịu khó cho sốp-phơ đánh ô-tô đi lộn sòng vào đoàn xe các quan. Lúc này, ông trút bộ âu phục ở nhà, bận áo dài quần chùng, khăn xếp, giầy ban, cổ lại để nửa kín nửa hở sợi dây kim-tông có lẽ chỉ là sợ dây buộc giấy chiếc thẻ bài cửu phẩm.
Mặc ta ngồi ô tô cầm lấy vô-lăng, sợ người ngoài lầm mình là sốp-phơ, bao giờ ông Ba Bồ cũng bắt sốp-phơ ngồi bên khoanh tay trước ngực. Rồi cái xe vô tội ấy phải nhiều lần qua lại các phố có người đẹp để những người ấy tha hồ mà đoản phỏng, tưởng lầm
Làm dáng cho mình còn chưa đủ, ông Ba Bồ lại còn làm dáng cho cả ô tô, xe nhà, phu xe, sốp-phơ của ông! Ô tô bốn còi, xe nhà hai đèn, sốp-phơ đủ blouse và kespi, phu xe đủ nón chóp bông hèo và sà cạp.
Hai môn thuốc gia truyền ho hen đã làm ông có nhà lầu ô tô nhưng ông vẫn trách thầm tổ phụ ông sai lại đi “đâm” vào cái nghề giao cầu thuyền tán! Trông bóng trong gương, ông vẫn bảo thầm ông có bộ mã một quan huyện – hay ít nhất cũng một viên hậu tuyển tri huyện – thì sao “bà mẫu” ác nghiệt chẳng đẻ ngay ra ông làm quan huyện, lại đẻ ông ra làm một ông lang!
Làm quan giả dạng, làm lang bất đắc dĩ, ông Ba Bồ còn thêm nhiều “đức” nữa như thích trưng diện và hiếu danh.
Người ta liệt kê ông vào hạng “Lang Băm”; nhưng muốn tên gọi có tính cách giễu cợt đối với cái “tánh” thích làm “quan lớn” của ông, có người còn đặt thêm cho ông một chức nữa, một chức mà là một tên: “quan lang…lớn!”.
LINH PHƯỢNG
(Nguồn: Tác phẩm Quan lang...lớn! thuộc chuyên mục Tập Ảnh, đăng trên báo Ích Hữu)

© 2012 Blog NXB Tân Dân

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

ÍCH HỮU

ÍCH HỮU 


Theo Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam của tác giả Nguyễn Thành (NXB Văn hóa thông tin 2001) thì báo Ích Hữu xuất bản hàng tuần tại Hà Nội. Số 1 ra ngày 25.2 - 2.3.1936; số cuối cùng, số 110, ra vào 3.1938.
Chủ nhiệm, quản lí: Vũ Đình Long về sau thêm Vũ Huy Thọ. Từ số 94, ngày 8.12.1937 quản lí là Lê Văn Trương
Tòa soạn báo Ích Hữu đặt tại 93 phố Hàng Bông – “đại bản doanh” nhóm Tân Dân. Báo in ở nhà in Tân Dân: khổ 300x220mm và 450x300mm
Ở Thư viện quốc gia Việt Nam hiện có:
+ Ích hữu 1936: từ số 1 đến số 25
+ Ích hữu 1937 - 1938 từ số 94 đến 110 (thiếu số 96, 99)
Ngoài các thông tin chính trị xã hội thì Ích Hữu dành một dung lượng lớn để đăng tải các tác phẩm văn chương gồm truyện dài, truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết dịch...  Ngọc Giao kể lại về tờ Ích Hữu như sau: “Ích Hữu: Tuần báo, nội dung tựa báo Văn nghệ hiện giờ. Không thể thiếu được: một tiểu thuyết dài về tình yêu hấp dẫn tương tự Hồng lây mộng, Tây sương ký. Ích Hữu có nhiều độc giả nhờ truyện dài lịch sử Phấn son Phi Yến do thi sĩ Thanh Tùng Tử viết với thể văn hoa mỹ. Báo in khổ rộng, chữ đẹp, minh họa đẹp. Sau truyện Phấn son Phi Yến tiếp truyện dài Vết xe phu tử của Vũ Lang (...). Ích Hữu được hoan nghênh nhờ nội dung đáp ứng thị hiếu người đọc qua những cây biết thật chắc tay như Trúc Khê, Nguyễn Đỗ Mục, Vũ Lang, J.Leiba Thanh Tùng Tử... Không cần nhiều. Mỗi tuần chỉ cần 2 hoặc 3 người đặc trách” (Hà Nội cũ nằm đây, Sđd, tr.252).
Qua sự khảo sát trực tiếp trên báo Ích Hữu số 1 lưu tại Thư viện quốc gia Việt Nam chúng tôi có được mục đích, tôn chỉ hoạt động của tờ báo như sau:
Ích Hữu số 1 ra ngày 25 Février – 2 Mars 1936. Dòng chứ ICH HUU (không có dấu) in hoa đậm màu đen và có ghi bên dưới: Tuần báo ra ngày thứ ba. Báo quán: 93 phố Hàng Bông – Hanoi – Nhà in Tân Dân.
Trang nhất in hình lớn màu nâu một người công nhân có dáng hình khỏe mạnh, tay cầm chiếc búa chim đang quai lên rất mạnh mẽ. Ngay phía dưới là một khung nền đen in nổi bật chữ trắng, ghi rõ giá báo là 5 xu cùng với những dòng chữ sau: Ích Hữu là tờ báo của khắp mọi người, người bạn có ích của hết thảy mọi nhà. Ích hữu muốn làm một tên quân dọn lối của quốc dân trên con đường tiến hóa. Đứng đắn, có ích hoạt động vui vẻ là những tính chất cốt yếu của Ích  Hữu.
Tờ báo cũng in rõ ở góc dưới bên trái trang nhất là: SỐ NÀY BIẾU.
Trang 2 có ghi giá bán báo như sau:
Cả năm 2 $50; nửa năm 1$25: Không phụ trương
Có phụ trương: cả năm 3$25; nửa năm 1$65.
Ngay giữa trang 2 có khung in lời Thay lời phi lộ của Ích Hữu như sau: “Ích Hữu tuần báo là tờ báo của khắp mọi người, là người bạn có ích của hết thảy mọi nhà.
Ích Hữu muốn làm một tên quân dọn lối của quốc dân trên con đường tiến hóa.
Đứng đắn, có ích, hoạt động, vui vẻ là những tính chất cốt yếu của Ích Hữu tuần báo.
Đó là những lời chúng tôi đã dùng để cổ động cho tờ báo này, mà cũng là những lời chúng tôi nêu lên đầu Ích Hữu tuần báo làm cái đích cho chúng tôi hằng ngày noi theo.
Trước khi bắt tay vào việc, chúng tôi có lời trân trọng kính chào các bạn độc giả và các bạn đồng nghiệp
Ích Hữu”
Ở góc bên phải dưới cùng trang 5 có in đậm những dòng chữ sau: “Ích Hữu tuần báo số 1 in ra 30 ngàn số để kính biếu quốc dân, mà không đủ để biếu cho khắp. Ngài xem xong xin sẵn lòng giới thiệu Ích Hữu với người khác. Mà nếu ngài không định mua theo, thì xin đưa số ấy biếu tặng lại người khác.
Ích Hữu số 1 có in thêm 5.000 để bán kèm với số 2 cho những ai chưa được số biếu”.
Góc phải dưới cùng trang 17 có in đậm những lời sau: “Nếu ngài nhận thấy tờ Ích Hữu này có ích cho bạn trẻ và gia đình, thì xin nhiệt thành mua giúp và cổ động cho nhiều người mua.
Báo Ích Hữu giữ đủ số sẽ đóng lại được những bộ sách hàng ngày cần tra cứu đến”. (Những chỗ in đậm là do chúng tôi nhấn mạnh – V.Đ.H)
Tôn chỉ hoạt động của Ích Hữu rất thiết thực và rõ ràng. Trên Ích Hữu số 3 có bài Cùng bạn đọc với nội dung như sau: “Ngoài phần tiểu thuyết là phần giải trí báo nào cũng phải có, Ích hữu có nhiều mục lợi ích thiết thực cho bạn trẻ và gia đình: Muốn biết, Lời bác sỹ, Hỏi thuốc, Hỏi luật... Chúng tôi khuynh hướng về thực tế mà chúng tôi cũng rất chú trọng về văn chương, cho nên những mục Tập ảnh, Trước đèn, Đĩa mứt gừng, Thơ văn... đều do những cây bút có giá trị chuyên giữ. Đúng như những lời chúng tôi đã cổ động trước: Ích Hữu là tờ báo của khắp mọi người, là bạn của hết thảy mọi nhà”.
Các chuyên mục chính của Ích Hữu gồm:
Đĩa mứt gừng: là những bài tản văn với giọng châm biếm hài hước phản ánh rất nhiều khía cạnh của đời sống gia đình, chính trị, lối sống của người Việt... Mục này do bút danh Ba Phải phụ trách.
Trước đèn: đăng những bài nghị luận xã hội do Lãng Nhân Phùng Tất Đắc phụ trách.
Tập ảnh: do Linh Phượng phụ trách. Mục này chuyên đăng tải những bài viết theo lối ký chân dung, dựng lại những chân dung nhân vật ở đủ mọi tầng lớp trong xã hội với tất cả những cái kỳ quái, dị hợm không giống ai.
Thơ (Văn thơ): chuyên đăng tải thơ với chủ yếu là thể loại truyền thống như thất ngôn, ngũ ngôn, lục bát...
Tiểu thuyết: đăng tiểu thuyết gồm trường thiên tiểu thuyết (đăng làm nhiều số) và đoản thiên tiểu thuyết. Dung lượng chuyên mục khoảng 6 – 7 trang.
Dịch sách nước ngoài: Do Nguyễn Đỗ Mục phụ trách. Sách được dịch tập trung vào các chủ đề thuật cai trị quốc của các vua chúa đời xưa bên Tàu, ở ta, luận bàn về các tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo... Có đăng cả nguyên văn của văn bản gốc để độc giả đối chiếu.
Trang chiếu bóng: Đăng tải các bài viết về nghệ thuật điện ảnh gồm tin tức phim, bình luận phim, đời tư các diễn viên...
Đó đây: Do Lê Văn Trương phụ trách. Chuyên đăng tải các bài viết kể về những chuyến đi của tác giả đến các vùng đất xa lạ, gặp gỡ những con người với những phong tục kì thú
Ngoài ra Ích Hữu còn rất nhiều các chuyên mục hữu ích và thiết thực khác như: Thư chị thư em, Muốn biết, Lời bác sỹ, Tin sách báo, Dại và Khôn, Muốn đẹp, Thế giới danh nhân truyện, Những phong tục lạ, Học chữ Nho, Hỏi thuốc, Các môn thuốc kinh nghiệm, Hỏi luật, Tâm sự, Hộp thư
Trong các ấn phẩm được gọi là báo chí của Tân Dân thì chỉ có Ích Hữu thực sự là một tờ báo đúng nghĩa, nó đóng vai trò là cơ quan ngôn luận của nhóm Tân Dân và có ảnh hưởng rộng rãi trong lịch sử văn hóa, văn học, báo chí Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945.
Các cây bút viết chính cho Ích Hữu vẫn gồm Nguyễn Công Hoan, Vũ Lang, Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Lê Văn Trương, J.Leiba Thanh Tùng Tử....