Tìm kiếm Blog này

Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
TIỀN BẠC CHI TIÊU RỒI CŨNG HẾT, CHỮ ĐỂ MAI SAU NGHĨA MÃI CÒN
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHÂN VẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHÂN VẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

NHÀ VĂN, NHÀ PHONG TỤC HỌC TOAN ÁNH

TOAN ÁNH 


Cụ Toan Ánh đã già lắm rồi, cụ hiện cư ngụ tại nhà con gái ở đường Nguyễn Kiệm Phú Nhuận, xưa kia là đường Võ Di Nguy, lối lên sân gôn, Tổng y viện Cộng Hoà cũ.
Để giữ gìn sức khoẻ, mỗi sáng cụ đi bộ một vòng quanh công viên cho giãn gân giãn cốt. Cụ đi từ 6, 7 giờ đến 9 giờ mới về nhà, nghỉ ngơi hoặc làm việc. Trước kia cụ đi một mình, nhưng nay con cháu cụ phải đi kèm coi chừng, cụ hiện bị bệnh tiểu đường, do giữ gìn và kiêng khem kỹ nên cụ vẫn sống vui, sống khoẻ.Ngoài việc thèm hút thuốc lá, nhưng cũng phải giới hạn. Cụ không đam mê một thú vui nào khác ngoài sách vở và công việc sửa chữa lại tác phẩm của mình, biết bao nhiêu bản thảo xếp chồng chất cạnh giường cụ làm cho người ta phải khâm phục. Cụ Toan Ánh làm một công việc kiên trì của một nhà văn, một nhà khảo cứu về phong tục Việt Nam, suốt bẩy chục năm cầm bút.
Nhìn vào danh mục mới thấy về sự làm việc kinh hồn của cụ, một sự nghiệp lớn lao về văn hóa mà ít nhà văn nào có thể làm được, có lẻ vì đam mê, sự kiên trì và tuổi đời cao chăng, bây giờ cụ ở tuổi trên 90 nhưng vẫn còn minh mẫn, dù tai nghe không rõ lắm, một chút nhớ nhớ quên quên: 124 tác phẩm.
Nói tác phẩm là một quyển sách chưa đúng hẳn, vì một tác phẩm của cụ có thể là một bộ sách gồm nhiều quyển sách gộp lại mang cùng tên, như tác phẩm Nếp Cũ, gồm cả chục cuốn sách, mỗi cuốn dầy từ 300 trang trở lên. Và còn nhiều bộ như thế, trong một đời cầm bút của cụ.
Được cụ tiếp chuyện cả là một vinh hạnh, với tôi thì cụ là bậc trưởng thượng, bậc đàn anh tôi dành tất cả sự trân trọng và quý mến.
Tôi hỏi cụ về những vị cùng thời với cụ, cụ thở dài:
-Chết hết cả rồi!
Cụ còn nói:
-Người trẻ nhất cũng đã chết rồi.
Ngồi nói chuyện với cụ Toan Ánh, tôi phải thú thật với cụ rằng tác phẩm của cụ nhiều quá, tôi chưa đọc hết, nhưng cũng có đọc những cuốn cụ viết về phong tục, tôi ngưỡng mộ lắm, vì tôi thấy lại quê hương tôi ở miền Bắc, những hội hè đình đám, mà khi tôi có chút hiểu biết thì còn là một trẻ nhỏ, những vùng đất tôi từng đi qua thời tản cư, chiến tranh đánh đuổi giặc Pháp của toàn dân. Này là Đại Từ, Thái Nguyên, Phú Thọ, Núi Tam Đảo, Chapa nơi có chợ tình họp thường xuyên theo phong tục của các sắc dân miền cao, tôi đã đọc và hiểu thêm về những nơi đó. Tôi từng nghe hát Quan Họ biết Bắc Ninh là quê hương của quan họ, nhưng làm sao biết được rõ ràng, nếu không đọc và tham khảo sách của cụ, rồi những hội hè đình đám chốn quê hương Bắc Bộ.
Cụ Toan Ánh cho biết:
Không thuần ở miền quê Bắc Bộ mà khắp Việt Nam, cả đời tôi làm công chức nên đi nhiều nơi, tìm hiểu cặn kẽ từng vùng từng nơi, và nhờ nhiều vị có uy tín ở địa phương giúp cho những tài liệu chính xác, đáng tin cậy, để tham khảo thêm về phong tục ở từng vùng.
Tôi thú thật rằng sau năm 1954 tôi mới đọc những tác phẩm của cụ, vì khi đó tôi mới lớn và tập tành đam mê chuyện văn chương. Còn cụ cầm bút từ khi tôi chưa ra đời, tức là năm 1934, cụ còn là học sinh ban thành chung đã có bài đăng trên các báo. Theo như tài liệu của gia đình cụ Toan Ánh, tôi thu thập một ít tiểu sử của cụ:
Nhà văn Toan Ánh tên thật là Nguyễn Văn Toán, sinh năm 1915 tại Thị Cầu, Bắc Ninh, quê hương quan họ, thuộc gia đình trung lưu Hán học, học Hán văn với mẹ và thầy đồ Chu Phượng Nghi trước khi qua học chương trình Pháp Việt phổ thông thời đó. Ngày bé thường đường bố công kênh đi xem các lễ hội quê nên chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền đạo đức, lễ giáo Đông phương, yêu sâu xa các lễ hội, các thuần phong mỹ tục và văn hóa nghệ thuật nước nhà, đồng thời tiếp thu được tinh thần phân tích khoa học và nét trữ tình của nền văn học Tây phương.
Vào làng văn làng bút, Toan Ánh đã làm thơ, viết kịch, viết tiểu thuyết và nhất là trở thành nhà Phong-tục-học, viết biên khảo về nếp sống cũ, về thuần phong mỹ tục của Việt Nam (như bộ Nếp cũ 11 quyển, Bó hoa Bắc Việt, Tinh thần trọng nghĩa Đông phương, Tiết tháo một thời, Phong lưu đồng ruộng, Văn hóa Việt Nam những nét đại cương, Hương nước hồn quê. Về các sắc dân Việt có Người Việt Đất Việt, Miền Bắc khai nguyên, cao nguyên miền Thượng.
Toan Ánh bắt đầu viết văn làm thơ từ năm 1934 như đã nói ở trên, khi còn là học sinh ban Thành chung đã có bài đăng trên các báo.
Trước năm 1954: Trung Bắc Chủ Nhật, Tiểu thuyết thuần san, Đàn Bà, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Bắc Ninh tuần báo, Tạp chí Tao Đàn, Tạp chí Bạn Đường (Thanh Hóa), Tạp chí Tin Lào (Vạn Tượng), Phổ thông bán nguyệt san, Jeunesse Studieuse v.v...
Sau năm 1954: Chỉ Đạo, Bách Khoa, Hải Triều Âm, Lành Mạnh, Chọn Lọc, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Cách Mạng Quốc Gia, v.v...
Sau năm 1975: Tập san Nghiên cứu dân tộc học, Xuân dân tộc miền núi, Xưa và Nay, Danh nhân trẻ v.v...
Trước năm 1975 Toan Ánh là hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế, phó chủ tịch. Hội viên Hội Thư Viện VN, hội viên hội Văn hóa Giáo dục, hội viên (liên lạc viên) Trung Tâm Văn Hóa Thái Bình Dương, giáo sư thỉnh giảng tại nhiều trường đại học và cao đẳng như đại học Vạn Hạnh, đại học Văn Khoa Huế, đại học Cần Thơ, đại học Đà Lạt, Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn, CĐQP Vĩnh Long về phong tục học, Văn Hóa Việt Nam, thẩm mỹ học, xã hội học v.v...
Do tính đa dạng của các công việc (thuế vụ, hành chánh, tòa án, thư viện, tài chánh, thể dục thể thao, xã hội, dậy học), nhà văn Toan Ánh đi làm qua các thời kỳ ở rất nhiều nơi, nên đã có được một sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Nhưng cụ vẫn nhũn nhặn khiêm nhường, nói “không ngờ vì sự đam mê mà có được”. Nhưng ai dám phủ nhận tài năng và sức làm việc của cụ trong việc làm vĩ đại ấy.
Trong câu chuyện vui, cụ nói có người còn dám đội tên cụ, nghĩa là xưng mình là nhà văn Toan Ánh, lại khoe với chính con trai của cụ mới là điều trớ trêu. Cụ không nói phản ứng của con trai cụ và cụ thế nào, ra sao với kẻ láo lếu ấy, đó cũng là tính khiêm nhường của cụ.
Sau 30.4.75, cụ sáng tác ít, làm công việc sửa chữa lại bản thảo, phục hồi những bản thảo bị mất bị hư trang, nhiều tác phẩm của cụ chưa in, nên bây giờ cụ cho in lại hoặc tái bản. Cụ hơi bực mình vì việc biên tập ở đây, nhiều khi làm lạc cả ý của cụ, có nhà xuất bản còn thay đổi cả tên tác phẩm của cụ, như quyển Bó hoa xứ Bắc bị đổi là Gái đẹp xứ Bắc! Theo cụ thì đó là điều tục tĩu trong sự đặt lại tên tác phẩm của cụ, và còn lại nhiều sự biên tập khác làm cụ bực mình, không thể chấp nhận được. Chị con gái lớn của cụ là người đại diện của cụ, cũng đồng ý điều đó, vì thế bây giờ ai in lại tác phẩm của cụ không được sửa đổi bất cứ một câu một chữ nào, dù là một dấu chấm, dấu phẩy, có hợp đồng đàng hoàng.
Sách của cụ tràn lan khắp mọi nơi, kể cả trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Tôi hỏi cụ:
-Thưa cụ, sách của cụ có in ở nước ngoài vậy nhà xuất bản nào ấn hành?
-Nhà xuất bản Xuân Thu.
-Cụ có liên lạc với nhà xuất bản ấy không?
Cụ Toan Ánh hừ một tiếng:
-Có, tôi có thấy họ in sách tôi, tôi nghĩ đường xa cách trở nên viết thư liên lạc với họ, tôi có nhận được thư trả lời của họ, một bức thư trả lời lời lẽ không được nhã nhặn cho lắm.
Cụ có thể cho biết rõ hơn?
Họ nói họ in sách tôi là muốn “nâng đỡ” tôi, muốn độc giả không quên tôi, một việc làm phúc đức cho tôi, đáng lẽ ra tôi phải mang ơn họ mới đúng.
Quả thật đó là một chuyện không nên không phải đối với nhà văn có hơn bảy mươi năm hành nghề viết văn làm báo. Tôi hiểu những hạng “đầu nậu” ngành xuất bản như thế có ở nhiều nơi, ở Việt Nam này cũng không thiếu gì loại đầu nậu ấy. Những nhà văn còn lại trong nước bị in sách lậu trả lời bằng sự im lặng. Chẳng phải sợ gì họ mà không muốn nói đến thì đúng hơn.
Tác phẩm của cụ để lại cho đời là tác phẩm hữu ích, để thế hệ mai sau không quên tổ tiên, nguồn gốc. Cụ chỉ muốn đưa lên cái đẹp của Con người, của Quê hương Đất nước Việt Nam, để cho người đọc và hiểu làng quê Việt Nam hình thành như thế nào.
Với một gia tài văn chương văn hóa đồ sộ của cụ Toan Ánh, nhiều nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu cũng đã viết đến, phân tích, luận bàn không thiếu gì những cái hay cái đẹp trong văn chương và tài liệu cụ thu thập được trên khắp mọi miền đất nước, đó là những lời khen, những thái độ kính phục và cảm phục dành cho một nhà văn lão thành, dầy công trong sự nghiệp của mình, nhưng cụ thì vẫn khiêm nhượng, cái khiêm nhượng sẵn có trong lòng một kẻ sĩ có cả tài lẫn đức.
Riêng tôi, kẻ viết bài này, sinh sau đẻ muộn cũng chung một cảm phục như thế, nên không nói thêm điều gì, mà người ta đã ca tụng, đọc sách của nhà văn Toan Ánh, người ta còn nhìn thấy sự lột tả hết cái chân, cái thật khi nói về làng quê với một chút bỡn cợt nhưng đầy duyên dáng, trữ tình, điển hình là chính ngôi làng nơi mà cụ đã được sinh ra và lớn lên. Tôi xin trích ra một đoạn:
“Làng tôi không thay đổi gì, từ hình thể đến dân làng. Có khác chăng là những thằng bạn thả diều, đánh bi của tôi từ thuở nhỏ đã lớn, những cái đĩ thằng cu, xưa kia đầu chốc, cởi truồng, đã thay hình đổi dạng thành những cô gái làng xinh đẹp đỏm dáng, thành những cậu trai làng khỏe mạnh cần cù thương yêu miếng đất mảnh vườn, xoắn xuýt với thửa ruộng mẫu ao. Còn những cô gái làng xưa, nay đã có chồng, có cô lại còn dắt díu con bồng con mang.”
Và chẳng có gì lọt qua được cặp mắt sắc bén hóm hỉnh của cụ: “Ngắm lại những cô gái xưa tôi thầm yêu trộm nhớ đã là những thím nọ, mợ kia với chiếc áo hở lường, với đôi vú thõng dưa gang.” Còn nói đến trai làng với một chút hài hước: “Và những thằng bạn thuở nhỏ của tôi, thường cùng tôi vật nhau lúc chăn trâu, thường cùng tôi ê a quyển Hán tự Tân thư, cũng là những anh chồng ngoan ngoãn chăm lo vườn tược ruộng nương, có anh cũng có hai ba con! Anh nào anh nấy bộ mặt nghiêm trang đứng đắn, đi ra khỏi ngõ là áo dài khăn lượt trông thật đạo mạo.”
Và những người lớn thì đã bắt đầu già: “Có người tóc điểm hoa râm, có người mắt đã bắt đầu đeo kính. Còn các cụ già, nhiều cụ đã không còn nữa! Các cụ đã ăn xôi nói theo danh từ hài hước quê mùa! Hỏi thăm các cụ, các người thản nhiên trả lời: Các cụ đi với ông ‘sáu tấm’.”
Còn những cô gái làng mới lớn, tôi thấy trong một đoán ngắn:
“Nếu ai đi qua cổng làng tôi gặp lúc chiếc cổng tre giương lên, một cô gái chít khăn mỏ qua, mặc áo cánh nâu non, yếm mầu mỡ gà với khuôn mặt trái xoan, với hai con mắt long lanh sáng, điểm thêm nụ cười chúm chím như hoa hàm tiếu, tuy vậy cũng để lộ mấy chiếc răng cửa đen nhức như hạt huyền và đều đặn như hạt lựu giữa đôi môi tươi thắm, ắt phải có cảm tượng như được ngắm một bức tranh linh động giữa thiên nhiên. Cô gái làng đang đứng bên cột tre, một tay giơ cao vịn vào cành tre. Cô đứng làm gì?
“Ai có biết nhưng nhìn cô thấy đáng yêu với vẻ ngây thơ. Có khi cô lại cất tiếng hát vài câu ca dao, tiếng vang êm ái nghe thật là quyến rũ:

Chẳng tham ruộng cả ao sâu
Tham gì anh tú tốt râu mà hiền,
Chẳng tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút cái nghiêng anh đồ.

Hỡi ai là anh tú, hỏi ai là anh đồ, nghe cô ca có động lòng chăng tá!
Cô gái quê thật thà là bông hoa của đồng ruộng! Cô đã làm cho cho bao chàng trai say mê, và chính cô cũng đã bao lần tơ lòng rung động trước nỗi niềm tha thiết của những trai làng!”
Nét văn hóa của làng quê Việt Nam nổi bật những những điểm đó, ở bút pháp vừa và vặn vừa sắc bén của nhà văn nhà khảo cứu Toan Ánh khiến người đọc bị quyến rũ, nao lên, say sưa đọc mãi cho đến trang cuối của cuốn sách dày hơn 300 trang mà vẫn còn muốn đọc nữa.
Khi đọc sách của nhà văn Toan Ánh, tôi thấy mình yêu quê hương đất nước hơn, không phải riêng tôi mà rất nhiều người đồng điệu đều có chung một cảm xúc ấy.
Hỏi về đời sống của cụ, đời sống của cụ sau 30.4.75, cu vẫn để cho nhà nước xuất bản sách của cụ. Cụ cho rằng sách của cụ cần được phổ biến, không phân biệt mốc thời gian, không chứng kiến đỏ đen hoặc phục vụ cho tầng lớp nào đó, mà cho cả thế hệ mai sau. Để cho con cháu chúng ta biết được phong tục tập quán của dân tộc.
Ngày “cải tạo văn hóa” năm 1975, cụ Toan Ánh là một trong rất ít người làm văn hóa không phải đi học tập, nhưng phòng PC16 cũng không quên cụ, mời cụ lên nói chuyện chứ không phải là lệnh bắt giam. Đối với cụ Toan Ánh là họ đã “chiêu hiền đãi sĩ” lắm rồi. Những tác phẩm của cụ bị đốt đâu không biết, chứ cụ không bị họ vào nhà lục lọi khiêng ra trước cửa đốt. Họ chỉ đạt giấy mời cụ lên, người chấp pháp lấy cung cụ, hình như cũng là nhà văn hóa không biết bao lớn, nói chuyện với cụ bằng tư thế của kẻ chiến thắng, gọi cụ bằng “anh”. Cụ Toan Ánh cho anh ta biết sự phân biệt về tuổi tác, không thể gọi cụ bằng anh được, cụ không chấp nhận. Cốt cách cụ là nhà nho làm văn hóa, ngay cả miền Bắc XHCN cũng còn dùng sách của cụ để dạy học, vậy thì nói chuyện với cụ phải có cái lễ nghĩa của một con người. Người cán bộ chiến thắng ấy bèn đổi giọng nói chuyện với cụ lễ phép hơn suốt câu chuyện.
Trong suốt 30 năm XHCN cầm quyền ở Việt Nam, cụ Toan Ánh sáng tác ít, mà sửa chữa và cho in lại những tác phẩm của cụ thì nhiều, một chuyện làm ăn sòng phẳng giữa nhà văn và nhà xuất bản của nhà nước, khai thác một số tác phẩm nào đó của cụ có hạn định. Đời sống của cụ và đám con cháu bình bình chứ không gian truân, lao đao như nhiều người làm văn hóa khác, con cái có công việc làm. Mừng cho cụ cho gia đình cụ.
Rằm tháng Bẩy, người Xá Tội Vong Nhân, chùa Vĩnh Nghiêm tổ chức một buổi lễ cầu siêu cho hai triệu người dân chết đói ở Bắc Việt, hồi 60 năm trước, đáng lẽ chuyện này phải làm lâu rồi, nhiều người cũng không đồng ý việc chọn ngày Rằm tháng Bẩy là theo phong tục dân gian là ngày cúng cho các cô hồn, các đảng. Hai triệu người Việt bị chết oan ức vì quốc nạn do sự xâm lăng và chính sách tàn bạo của quân phiệt Nhật, họ không nằm trong danh sách Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, cái chết của họ phải được tưởng nhớ một cách trân trọng như Nước Nhật hàng năm họ vẫn tổ chức đại lễ tưởng niệm những người dân vô tội đã bị thiệt mạng vì hai quả bom nguyên tử.
Tôi kể cho cụ nghe về chuyện chết đói mà tôi đã chứng kiến lúc còn bé ở Ô Cầu Giấy, có kẻ vì đói làm liều ăn quỵt tiền cơm, họ bị chủ hàng xua người làm công đánh đấm một cách dã man đến độ ói cả chỗ cơm vừa ăn quỵt nhưng chưa ghê sợ bằng khi nhìn thấy cảnh số cơm vừa ói ấy được một số người khác cũng đánh đấm, xô đẩy nhau giành giật để ăn, thật là một cảnh hỗn loạn chưa từng thấy. Tôi hỏi cụ, với tư cách của một người đã sống qua, chứng kiến những chuyện ấy cụ còn nhớ gì không, cụ trở nên trầm ngâm, nhắc lại khung cảnh thê thảm ngày ấy:
Xác người chết đói chở xe bò ra những cửa ô đem đổ đi, đổ đi chứ không phải chôn cất, người ta đói quá vồ luôn những bãi mửa của chó mửa ra để ăn, tôi nói là chó chứ không phải người như anh thấy ở Ô Cầu Giấy. Chưa một năm nào dân tộc ta lại thê thảm như vậy.
Trong trí nhớ của tôi, nhớ ra một chuyện hồi 45 năm trước. Tôi còn nhớ người ta kháo nhau chuyện một người đàn bà buôn cám trộn mạt cưa, bán cám cho ngựa của một doanh trại Nhật. Và sau đó họ mổ bụng con ngựa để tìm hiểu nguyên nhân vì ăn cám gạo trộn mạt cưa mà chết, quân Nhật đút luôn kẻ buôn gian bán lận ấy vào bụng con vật, khâu lại rồi mang đi chôn sống. Một hành động quá sức tàn nhẫn của người Nhật với dân bị trị, không phải để trừng phạt cho người ta sợ, mà việc làm mất nhân tính, nên quân đội Nhật hoàng mới mang tiếng tai khắp một vùng Đông Nam Á này. Tự họ đánh đổ thuyết Đại Đông Á mà họ đề ra.
Cụ Toan Ánh nói không phải là lời đồn đãi, đây là câu chuyện có thật. Việt Nam những năm đó phải chịu cái ách từ mọi phía đổ lên đầu dân tộc. Giọng cụ thật xúc động, nỗi buồn trùng xuống trên mái đầu bạc, tôi cũng buồn lây.
Buổi trưa rồi đấy. Tôi phải ra về để cụ nghỉ ngơi, nếu không về cụ sẽ nói chuyện hoài, nói không dứt được. Phải chăng người già ai cũng thế, làm chưa hết thì phải nói cho bằng hết, những gì mà mình cho là còn dở dang.
Hình như có một cơn mưa. Mây đen từ hướng đông chuyển vào thành phố.

Sài gòn, tháng 10.2005
Nguyễn Thụy Long

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

LAN KHAI VÀ TẠP CHÍ TAO ĐÀN 1939


NGUYỄN NGỌC THIỆN
(Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Lan Khai (1906-2006)

Đầu năm 1939, Vũ Đình Long, chủ Nhà xuất bản Tân Dân có sáng kiến xin giấy phép xuất bản ấn hành tạp chí TAO ĐÀN. Đây là tạp chí chuyên ngành về văn học đầu tiên trong làng báo ở ta trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.


Trong số đầu tiên ra mắt ngày 1.3.1939, Bộ biên tập tạp chí đã trình bày lý tưởng và đặc sắc của tạp chí này là “về phương diện tư tưởng cũng như về phương diện nghệ thuật, Tao Đàn sẽ đặc biệt chú trọng vào những công trình sáng tác” vì chỉ ở đó mới phát huy được một cách mạnh mẽ tinh thần dân tộc Việt Nam. Một nền văn hoá Việt cần được tạo dựng bắt đầu từ việc “gây ngay một phong trào quốc văn mạnh mẽ và rộng lớn từ trước đến nay”.

Tạp chí chủ trương tránh biệt phái nhân danh cơ quan riêng của một văn phái, mà cố gắng trở thành một diễn đàn mở rộng, có khả năng tập hợp và hội tụ các lực lượng tuy chính kiến có thể khác nhau, nhưng có chung một lập trường giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, không để rơi vào tình trạng mất gốc, tầm gửi vào các nền văn hoá ngoại lai.
“Nó sẽ là nơi gặp gỡ của hết thảy mọi trào lưu tư tưởng và mọi khuynh hướng nghệ thuật, miễn là các trào lưu và khuynh hướng ấy cùng chung một mục đích: gây dựng một nền văn hoá Việt .
Nó sẽ là một cái vườn ươm hạt giống anh tài của chủng tộc, là nơi để bất cứ một cá tính nào cũng có thể phát triển đầy đủ về phương diện tư tưởng cũng như nghệ thuật; nó sẽ tập trung tất cả mọi sự gắng công để đi tới sự hợp nhất và tiến bộ đến hoàn toàn của ngôn ngữ Việt Nam và sau hết là đi tới sự nhận chân cái bản thể nhân loại qua tâm hồn Việt Nam” (Lời nói đầu).

Vũ Đình Long làm Chủ nhiệm tạp chí, đảm bảo tư cách pháp nhân của ấn phẩm, còn về nội dung bài vở do Lan Khai đặc trách. Ngay từ số đầu tiên, Lan Khai được giao trọng trách Tổng thư ký Bộ biên tập và Quản lý.
Cho đến ngày tự đình bản vào tháng 12/1939 sau khi ra số đặc biệt về Vũ Trọng Phụng, trong 10 tháng hoạt động. Tao Đàn ra đều kỳ được 13 số (từ tháng 3 đến tháng 7-2kỳ/1 tháng; từ tháng 8 đến tháng 10-1tháng/1kỳ) và 2 số đặc biệt (về Tản Đà - tháng 7; về Vũ Trọng Phụng - tháng 12/1939), với tổng cộng 1.374 trang in khổ 14,5 x 20,5 cm.
Trong số 3 nhà văn lần lượt đảm nhiệm cương vị trong Toà soạn mà ngày nay gọi là Tổng biên tập, thì Lan Khai là người đầu tiên đứng vị trí ấy; ông bỏ nhiều công sức vun đắp xây dựng tạp chí đi đúng theo lộ trình và mục đích đã xác định. Ông làm Tổng thư ký Bộ biên tập kiêm Quản lý từ số 1 đến số 10. Còn 3 số cuối do Nguyễn Triệu Luật đảm nhiệm, 2 số đặc biệt do Lưu Trọng Lư tập hợp bài vở.
Ở tuổi 33 năng động, bút lực mạnh mẽ, sung mãn, Lan Khai đã nỗ lực thu hút bài vở của cộng tác viên và góp bài của mình theo sự phân bố về phần, mục với số trang ấn định.
Trong 3 phần chính yếu của Tạp chí thì trọng tâm là các phần Nghị luận và  khảo cứu; Nghệ thuật.

Về phần Nghị luận, khảo cứu, tạp chí đăng tải các bài tiểu luận khai thác, giới thiệu tinh hoa văn hoá dân tộc qua văn học dân gian người Kinh và dân tộc thiểu số (các bài của Phan Khôi, Lâm Tuyền Khách - bút danh khác của Lan Khai); về văn học cổ điển viết bằng chữ Hán và chữ Nôm (do Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Trọng Thuật, Ngô Tất Tố, Phú Hương...); về văn chương hiện đại (Trương Tửu, Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Trúc Đường). Loạt bài của Từ Ngọc, Nguyễn Triệu Luật, Tảo Trang, Kinh Dinh bàn về ngôn ngữ dân tộc qua việc điển chế văn tự, cải cách chữ quốc ngữ, dịch văn học là những bài viết công phu. Mảng chân dung văn học của các nhà thơ cổ điển, tác giả văn học hiện đại có những bài viết sinh động về Nguyễn Công Trứ, Hội Tao Đàn đời Lê. Đặc biệt với 2 số Tao Đàn tập trung các bài viết về Tản Đà (số đặc biệt tháng 7/1939) và Vũ Trọng Phụng (số đặc biệt, tháng 12/1939), liền sau khi các nhà thơ, nhà văn lớn nói trên vừa qua đời, Tạp chí Tao Đàn có thể xem như đã mở đầu sáng kiến làm số chuyên đề về chân dung tác giả văn học để tưởng niệm, kịp thời ghi lại tình cảm sâu sắc, nóng hổi và sự đánh giá trân trọng của người đương thời, của đồng nghiệp đối với những văn nghệ sĩ đã có công đóng góp lớn cho sự phát triển của văn học dân tộc. Rất nhiều bài trong 2 số tạp chí đặc biệt nói trên đã trở thành những giá trị kiểu mẫu của thể loại chân dung văn học, hồi ức, phê bình văn học, giúp ích cho việc tìm hiểu con người và sự nghiệp của các nhà văn đàn anh, bậc thầy của văn chương Việt Nam hiện đại. Trong đó, Lan Khai góp 2 bài đặc sắc: Phác hoạ hình dung và tâm tính thi sĩ Tản Đà; Con người Vũ Trọng Phụng.
Tuy còn ít ỏi, nhưng các bài viết về nước ngoài (triết học Bergson, Khổng Tử, thơ Đỗ Phủ, cổ học Trung Hoa của Lê Chí Thiệp, Phan Khôi, Hoài Thanh, Nguyễn Trọng Thuật), hoặc dịch truyện, thơ nước ngoài (do Mặc Lan, Đông Hồ thực hiện) đã thể hiện một cách xem xét bình tĩnh, khách quan, tiếp thu hoặc đối thoại từ chỗ đứng và thực tế đời sống dân tộc, không nhắm mắt vọng ngoại hoặc nóng nảy dị ứng, lố bịch.

Đáng chú ý là từ số 2, tạp chí Tao Đàn đã chủ động tổ chức cuộc trao đổi ý kiến xoay quanh chủ đề “Gây dựng nền văn hoá dân tộc Việt Nam như thế nào”, lôi cuốn được các cây bút của 2 phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh” tham gia thảo luận sôi nổi. Có thể xem đây là hiệp thứ ba của cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “Nghệ thuật vị nhân sinh”, do Hải Triều và Hoài Thanh là những người đứng đầu của mỗi phái. Sau khi đăng lại bài viết của Bùi Công Trừng thuộc phải “Nghệ thuật vị nhân sinh”. nhan đề Tán thành sự gây dựng nền văn hoá Việt Nam (đã đăng trên bài Đông Phươngtrước đó), tạp chí Tao Đàn liên tục cho đăng các bài trao đổi ý kiến nhiệt huyết tâm đắc của Hải Triều (1), Bùi Công Trường (1), Tô Vệ (1), Hoài Thanh (4), Lưu Trọng Lư (5), Lê Quang Lộc (1)... Một mình Lan Khai, trên lập trường “Nghệ thuật vị nghệ thuật” đã góp 7 bài vào cuộc tranh luận... Cũng cần nói thêm rằng, với sự sắp xếp bài vở khéo léo của Lan Khai, mà một số đoạn thích hợp với chủ đề thảo luận, rút từ sách Văn chương và hành động của Hoài Thanh - Lưu Trọng Lư - Lê Tràng Kiều (Phương Đông xuất bản tại Hà Nội năm 1936, chưa kịp phát hành thì đã bị chính quyền thực dân thu hồi) lại được in thành những bài lẻ, giật tít khác đi một chút, thể hiện lập trường tư tưởng nghệ thuật của một nhóm văn nghệ sĩ, kiên trì với quan điểm cũ.

Xung quanh cuộc tranh luận, trao đổi ý kiến này, chúng ta ngày nay có thể rút ra những bài học bổ ích về văn hoá tranh luận, bước tiến trong quá trình tiếp cận tư tưởng học thuật của mỗi bên. Nếu như một số khía cạnh trong bản chất quan điểm nghệ thuật của họ vẫn còn những khác biệt (về quan hệ giữa tính dân tộc với tính người, tính nhân loại; về giá trị trước mắt, đề tài thời sự và giá trị lâu dài, đề tài vĩnh cửu..., thì ở một số điểm khác đã thấy họ biểu hiện sự xích lại gần nhau, tiếp thu những mặt khả thủ của nhau. Chẳng hạn, yêu cầu về sự thống nhất, không thể tách rời giữa nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm; về mục đích chung có tính chất tổng thể mà văn chương nghệ thuật hướng tới là Chân, Thiện, Mỹ chứ không thể biệt lập tách riêng một phương diện nào; về bản thể sinh tồn của văn học là vì con người, cho con người; về yêu cầu không thể thiếu được của tài năng, cá tính sáng tạo độc đáo, giọng điệu riêng của bản lĩnh cầm bút. Những bài viết của Lan Khai tham gia tranh luận tuy không tránh khỏi phiến diện, cực đoan “nghệ thuật vị nghệ thuật”, song ông đã đi sâu vào những khía cạnh khác, xác đáng bàn về bản sắc dân tộc của văn hoá, văn nghệ, về thiên chức cao cả của văn nghệ sĩ, về đòi hỏi cao đối với tài năng và lao động nghệ thuật...

Là một tạp chí ra hàng tháng, định kỳ, song Tao Đàn vẫn chú ý đến những bài viết ngắn gọn trong phần Tạp ký, trong mục Điểm sách, Giới thiệu sách mới, Thư cho bạn. Với tác giả trẻ, tạp chí dành một sự ưu ái trong phê bình, thư từ trao đổi. Bài viết của Hoài Thanh về Một nhà thơ nhiều hi vọng: ông Phan Khắc Khoan và các bức thư của Lan KhaiGửi một bạn trẻ muốn theo đuổi nghề viết văn, Thư cho bạn... cho thấy trách nhiệm và tấm lòng của thế hệ đàn anh đối với việc phát hiện, bồi dưỡng tài năng trong lực lượng trẻ là cần thiết đến nhường nào!
Như trên đã nói, Tao Đàn dành trọng tâm cho phần Nghệ thuật  tức là dành nhiều số trang để đăng các sáng tác của các tác giả trong mỗi số. Trước hết là văn xuôi; người đọc có dịp thưởng thức văn tài của các cây bút quen thuộc như Vũ Trọng Phụng, Lan Khai...

Trên nhiều kỳ của Tạp chí, Lan Khai đã cho đăng những sáng tác mới của ông gồm truyện ngắn, truyện vừa như Lấy vợ cócĐồng tiền Vạn Lịch, Cái ám ảnh, Mọi rợ... hoặc tuỳ bút như Đau và chết. Truyện ngắn thuộc di cảo của Vũ Trọng Phụng, nhờ tạp chí Tao Đàn, đã đến với độc giả ngay sau ngày nhà văn họ Vũ yểu mệnh. Đặc biệt, cây bút mới Nguyễn Tuân xuất hiện đều đặn, liên tục. Với loạt 10 truyện ngắn - thường xuyên được đăng trọn vẹn trong mỗi số - dưới đề mục Vang bóng một thời. Nguyễn Tuân đã gây được ấn tượng mạnh mẽ trong người đọc về một cây bút văn xuôi có nghề, tài hoa, kỹ lưỡng trong câu chữ, diễn đạt. Chỉ một năm sau, vào năm 1940, các truyện ngắn đã in trên Tao Đàn của ông đã được tập hợp lại in thành sách dưới tựa đề “Vang bóng một thời. Như đánh giá của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, đây là “một tập rất quý”, giá trị của nó “sẽ còn tăng lên mãi với thời gian” vì “văn phẩm gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ” (*). Quả thực, loạt truyện này là đỉnh cao của tài năng Nguyễn Tuân, in đậm dấu ấn phong cách truyện ngắn không thể trộn lẫn của ông. Viết về những cái đã qua của một thời dĩ vãng,bằng giọng văn thành kính, trầm lắng và đượm buồn, cảm phục xen lẫn nuối tiếc, hoài niệm về cái đẹp của người và cảnh, của nghiệp dĩ và nếp sinh hoạt của cha ông ngày trước, truyện Nguyễn Tuân tạo được đồng cảm về sự liên tài, về những giá trị nhân bản đích thực như một di sản do tiền nhân để lại mà con cháu không thể để bị mai một do bụi thời gian.

Sau văn xuôi là kịch. Toan Ánh và Vũ Trọng Phụng là 2 tác giả kịch bản văn học có tác phẩm được đăng tải trọn vẹn qua nhiều kỳ tạp chí.
Trên những trang dành cho thơ, người đọc gặp lại các nhà thơ mới khá quen biết: Đông Hồ, Lưu Trọng Lư, Trần Huyền Trân, Phạm Hầu. Lưu Kỳ Linh... Một số bài hay của các thi sĩ này, mấy năm sau đó được Hoài Thanh - Hoài Chân chọn đưa vào hợp truyển bất hủ Thi nhân Việt (1932 - 1941)
Có thể nói với những ngày tháng làm Tạp chí Tao Đàn, Lan Khai đã được thoả nguyện, thể hiện đầy đủ tâm huyết và chí bình sinh của mình góp công sức vào xây dựng một nền văn chương giàu bản lĩnh tinh thần dân tộc Việt Nam, đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc, cả trong tư duy về nghệ thuật cũng như trong thành tựu sáng tác.

Tao Đàn
 như một ngôi sao băng,vụt hiện trên bầu trời văn học nước ta trong những ngày giông bão chiến tranh đang vần vụ, nhưng ánh sáng chói ngời của nó đã toả rạng, để lại dấu ấn khó quên trong tâm thức giới sáng tác và người đọc đương thời cũng như rất lâu về sau đến tận hôm nay.
Thành công của Tao Đàn là đáng kể, có thể nói là do thực hiện sát sao tôn chỉ đặt ra là phấn đấu xây dựng nền văn chương nghệ thuật mang dấu ấn đặc sắc của dân tộc. Do đó, nó đã thu hút, gây được cảm mến trong đội ngũ cộng tác viên, nghệ sĩ tên tuổi. Họ đã tích cực đóng góp bài vở công phu, tâm huyết cho các chuyên mục định hình của tạp chí. Tên tuổi của những học giả, văn nghệ sĩ xuất hiện trên Tao Đàn, trong đó có vai trò không nhỏ của Lan Khai với tư cách vừa là người định hướng tổ chức bài vở của Tạp chí liền trong 10 số đầu, vừa là nhà sáng tác văn xuôi, một cây bút tuỳ bút, tiểu luận - phê bình, là những tên tuổi sáng giá của nền văn chương, học thuật Việt Nam thời kỳ rực rỡ nhất thuộc nửa đầu thế kỷ XIX. Các thế hệ sau khi tìm hiểu chân dung tinh thần và sáng tác của họ, không thể không lần giở Tao Đàn, tìm đọc những bài của họ xuất hiện lần đầu trên tờ Tạp chí văn học thân thuộc và nổi tiếng này.
 Hà Nội, 24 tháng 6 năm 2006
         N.N.T
(Nguồn: TCSH số 211 - 09 - 2006)




-------------
(*) Nhà văn hiện đại, Nhà xuất bản Tân Dân Hà Nội, 1942; Nhà xuất bản Khoa học xã hội tái bản, Hà Nội, 1989, tập I, tr.415.

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2011

VŨ ĐÌNH LONG - SÁNG LẬP VIÊN NXB TÂN DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA ÔNG TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÓM TÂN DÂN

VŨ ĐÌNH LONG

Vũ Đình Long (19/12/1896 – 14/8/1960) là kịch tác gia đầu tiên và là nhà hoạt động xuất bản, văn hóa lớn của Việt Nam đầu thế kỉ XX. Ông biết cả chữ Nho và chữ Pháp.
Con đường để Vũ Đình Long trở thành một ông chủ xuất bản lớn ở nửa đầu thế kỉ XX cũng khá gian nan. Đến thời điểm 1934, tức khi ông đã 38 tuổi mới ra được tờ báo đầu tiên của mình, tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Với sự khôn khéo trong kinh doanh và sự chân tình trong tạo dựng các mối quan hệ với các nhà văn, tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy đã đứng vững và phát triển một cách rất mạnh mẽ, thậm chí cạnh tranh ngang ngửa được cả tờ Phong Hóa của Tự Lực Văn Đoàn đang rất nổi tiếng và ra đời trước 2 năm. Trong hồi ký Đời viết văn của tôi (NXB Thanh Niên 2004) Nguyễn Công Hoan kể lại rằng: “Tiểu Thuyết Thứ Bảy, trái với sự phỏng đoán của tôi và đúng với ý định của chủ nó, bán rất chạy. Năm nghìn, sáu nghìn, bảy nghìn, nó chỉ còn một địch thủ duy nhất là báo Phong Hóa” (tr.188-189).
Nhìn lại quãng đường trước khi hình thành nhà xuất bản Tân Dân ta thấy Vũ Đình Long đã có một quá trình hoạt động gắn chặt với văn học nghệ thuật. Về gia đình, thân sinh của ông cũng là một người ham thích ca kịch truyền thống dân tộc. Vũ Đình Long lớn lên được đào tạo cả Hán học và tiếng Pháp. Ông đã theo học tại Trường tiểu học Pháp – Việt, Trường trung học Paul Bert, rồi trường thuốc nhưng sau đó chuyển sang nghề dạy học. Trong thời gian làm giáo học ông thường xuyên tham dự những buổi bàn luận văn chương tại phòng khách Hồng Hoa – biệt thự Nguyễn Đình Thông. Chính những sinh hoạt văn chương này đã có tác động đến sự lựa con đường sáng tác của ông sau này.
Nói đến Vũ Đình Long không chỉ là nói đến một kịch tác gia nổi tiếng của văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX mà còn là nói đến một nhà hoạt động văn hóa lớn của dân tộc. Trong bài viết Vũ Đình Long – người khởi động và thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa của GS.Phong Lê (đăng trên website của Tạp chí Hội nhà văn Việt Nam ngày 30/12/2009) khẳng định: “Nói đến Vũ Đình Long  tôi muốn nhấn mạnh hai đóng góp lớn của ông cho tiến trình hiện đại hóa. Đó là: Tác gia kịch nói đầu tiên trong lịch sử sân khấu Việt Nam; và là người góp công lớn tổ chức nên thị trường văn chương, trong tư cách ông chủ báo, chủ xuất bản”. Và ở một đoạn khác GS.Phong Lê cũng nhấn mạnh: “trên 10 năm hoạt động, ở tư cách chủ bút, chủ xuất bản, Vũ Đình Long đã làm nên một sự nghiệp lớn - đó là việc góp công tổ chức nên một thị trường văn chương thật sôi động vào những năm 30; đã cho ra đời một khối lượng khổng lồ các tác phẩm gồm nhiều loại, với nhiều khuynh hướng sáng tác, và với nhiều thang bậc giá trị” và “Vũ Đình Long còn là người có công tham gia tổ chức, thúc đẩy các hoạt động văn học thời kỳ 1930-1945 theo xu hướng phát triển của đời sống hiện đại”. Trong cuốn Tuyển tập kịch Vũ Đình Long (NXB Hội nhà văn 2009) phần mở đầu Ngô Tự Lập có bài Vũ Đình Long – nhà viết kịch tiên phong đã có những đánh giá hết sức quan trọng về vai trò và vị trí của Vũ Đình Long trong đời sống văn hóa nghệ thuật, báo chí ở nước ta thế kỉ XX. Ngô Tự Lập Viết: “Vũ Đình Long, không còn nghi ngờ gì nữa, là một trong những nhà hoạt động văn hóa độc đáo và có nhiều ảnh hưởng nhất của nước ta trong thế kỉ XX.
Tên tuổi Vũ Đình Long thường gắn liền với nhà xuất bản Tân Dân và các tờ báo Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Ích Hữu, những địa chỉ thân thiết với rất nhiều nhà văn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, như Nguyễn Đỗ Mục, Ngô Văn Triện, Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Thanh Châu, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Kinh Kha, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Lan Khai, Vũ Ngọc Phan, Tô Hoài, Nam Cao… Trong khoảng thời gian từ 1925 đến 1945, Vũ Đình Long là người đỡ đầu tài năng và tâm huyết cho rất nhiều tác phẩm văn chương mà ngày nay đã trở thành kinh điển và niềm tự hào cho nền văn học dân tộc.”(tr.9)
Nhóm Tân Dân gắn liền với các báo và tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Ích Hữu, Truyền bá, Tao Đàn và hai tủ sách: Tủ sách những tác phẩm hay và Tủ sách Tao Đàn, đương nhiên để làm nên sự thành công của hàng loạt những sản phẩm văn hóa ấy là công của đông đảo đội ngũ các nhà văn, nhà báo đương thời trong đầu tư sản phẩm bài vở, nâng cao chất lượng các ấn phẩm.... thì không thể không nhắc tới người ở đằng sau đảm bảo cho tất cả sự thành công đó là Vũ Đình Long. Với tư cách là ông chủ nhà xuất bản, Vũ Đình Long buộc phải là người có tài trong quản lí và điều hành, sự nhanh nhạy trong nắm bắt xu hướng phát triển của xã hội để có những ấn phẩm văn hóa văn chương phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của độc giả, phải là người có tâm mới tập hợp được một đội ngũ đông đảo đến như vậy các nhà văn có tài đương thời làm việc cho mình.
Có thể nói Vũ Đình Long là người có con mắt “biệt nhỡn liên tài” khi hầu hết các nhà văn có tiếng đương thời nếu không ở trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì đều được Vũ Đình Long thu nạp hoạt động cho nhà Tân Dân. Trong bài viết vừa kể trên của GS.Phong Lê cũng có một đánh giá như vậy, xin trích: “Có thể nói, ngoài “thất tinh”, hoặc “bát tú” của Tự lực văn đoàn, cùng một số tên tuổi chịu ảnh hưởng của họ khoảng trên chục cây bút, thì gần như số lớn các nhà văn tự do hồi 1930-1945 đều tự nguyện tập hợp hoặc tìm đến với ông chủ Tân Dân”.
Cũng trong quyển hồi kí Đời viết văn của tôi Nguyễn Công Hoan cũng hé lộ cho ta biết nhiều thông tin về sự nhanh nhạy và khôn khéo hay nói chính xác hơn là tài năng của Vũ Đình Long trong điều hành và duy trì hoạt động rất nhiều cơ quan ngôn luận lớn của Tân Dân. Xin trích lại một đoạn trong sách đó như sau: “Nhà Tân Dân của Vũ Đình Long vẫn chỉ xuất bản những sách dùng cho nhà trường, nay đã mua máy in, nên mở rộng phạm vi hoạt động, xin ra tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy (1934). Vì trong chế độ của thực dân có lệ cấm không cho phép công chức và vợ con họ làm nghệ buôn bán, nhất là đã làm giáo học thì tuyệt đối không được buôn các thứ sách vở, giấy bút, cho nên Vũ Đình Long đã khôn ngoan đối phó lại lệ cấm ấy bằng cách mở cửa hàng bán sách thì dùng tên mẹ, mở nhà in và mở nhà báo thì đứng tên vợ. Sự thật thì mọi cung cách làm ăn ông ta là chủ. Ông Long tòng sự tại Nha học chính Bắc kỳ, làm cho Phòng thi cử, nên rất nhàn rỗi. Trong giờ làm việc, ông để tâm trí vào việc kinh doanh riêng, hơn là vào công việc của Nha. Điện thoại của Nha luôn luôn được ông sử dụng để gọi về nhà, điều khiển công việc. Bạn đồng nghiệp có người thấy chướng quá, mới tố cáo việc ông buôn bán với “sếp” nhưng ông đã trả lời rằng tôi ở cùng nhà với mẹ tôi và với vợ tôi, không lẽ tôi không giúp gia đình”(sđd – tr.177-178).
Khi được phép xuất bản tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy Vũ Đình Long đã có cả một chiến dịch mà ngôn ngữ ngày nay gọi là marketing rầm rộ. Đây là cảm giác của Nguyễn Công Hoan ghi lại trong hồi kí của mình: “Tôi lên Hà Nội, đến nhà Tân Dân. Trong khi đi phố, nhìn trên các tường, trong xe điện, cạnh các ghế khách ngồi ở hiệu cắt tóc, tôi đã thấy dán nhan nhản những quảng cáo báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy in rất mĩ thuật”(sđd – tr.178). Những quảng cáo ấy được in trên giấy khổ nhỏ bằng phong bì thư, in trên tấm giấy bìa láng dày, màu hồng rất đẹp. Nguyễn Công Hoan nhìn những tờ quảng cáo ấy phải thốt lên: “Phí nhỉ”. Thế nhưng lời giải thích của Vũ Đìng Long cho thấy ông thực sự là một người có đầu óc chiến lược kinh doanh: “Không phí. Nếu quảng cáo in trên giấy thường, thì đọc xong người ta vò vứt đi. Quảng cáo của tôi in đẹp, trên giấy quý, thì người đọc xong không nỡ vứt đi, mà giữ lại, có khi còn bày ở tủ kính như một thứ trang trí. Nó sẽ được nhiều người đọc chứ không phải một người”. Nghe Vũ Đình Long giải thích xong nhà văn Nguyễn Công Hoan chỉ còn biết “phục đầu óc” của người đồng nghiệp hơn tuổi.
Qua những trang hồi ký của Vũ Bằng – một thành viên chủ chốt trong nhóm Tân Dân – tập hồi ký Bốn mươi năm nói láo cũng hé lộ cho ta biết rất nhiều điều về Vũ Đình Long. Cũng như những cảm nhận và đánh giá của Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng đã có những nhìn nhận rất tích cực về Vũ Đình Long. Qua con mắt của Vũ Bằng, Vũ Đình Long hiện ra là một người rất có đầu óc kinh doanh, sẵn sàng mạo hiểm để thử thẩm mỹ của độc giả bằng những lối viết mới. Vũ Bằng kể lại: “Đến bây giờ, tôi vẫn còn cảm phục ông Vũ Đình Long, vì ông tỏ ra hiểu biết ngay từ buổi đầu hội kiến (...) tôi đi thẳng vào vấn đề với ông Long: từ trước đến nay, truyện ngắn của ta đòi người viết phải có một cốt truyện hoặc ly kỳ ít, hoặc ly kỳ nhiều, thí dụ các truyện ngắn nói về những mối tình éo le làm cho người đọc hồi hộp và than khóc.
Dù sao, báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy cũng là tờ báo hiện giờ chạy nhất nước, có một số độc giả vững chắc rồi. Ông thử nghĩ xem có nên đưa ra một loại truyện mới để cho lãnh vực tiểu thuyết của ta phồn thịnh hơn?” (Tuyển tập Vũ Bằng, Tập 1 – Triệu Xuân, NXB Văn học 2000) (tr.359). Những đề nghị đó của Vũ Bằng đã được Vũ Đình Long đồng ý thử nghiệm ngay chính trên tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy đang rất nổi tiếng lúc đó. Có thể nói, nếu không phải là người có tố chất mạo hiểm của một đầu óc kinh doanh và biết nhìn xa trông rộng chắc chắn Vũ Đình Long sẽ không đồng ý thử nghiệm một lối viết mới khi mà tờ báo của ông đã đứng vững trên văn đàn.
Qua những trang hồi ký của Vũ Bằng ta cũng nhận biết được những nét tính cách cũng như phẩm chất đáng quý của Vũ Đình Long. Vũ Bằng viết: “Nói rất thành thực, trong thời kì này, tôi học hỏi được ông Long rất nhiều điều hữu ích về lề lối làm việc: ông chịu khó đọc báo, sách của Pháp để tìm sáng kiến; có sáng kiến nào hay, ông nghiên cứu, khơi sâu thật kỹ lưỡng và ghi ra giấy”. Sau bao nhiêu năm cộng tác với Vũ Đình Long, Vũ Bằng kết luận: “Nhưng tựu trung nguyên tắc làm báo của ông có thể gói ghém lại như sau: không làm chính trị, phục vụ văn hóa, giúp ích đại chúng bằng cách mua vui cho họ, vừa mở mang trí tuệ, in rõ ràng và đẹp để đọc không mệt mắt, và bán bằng cái giá hạ nhất để cho các bạn đồng nghiệp không theo kịp, mà cũng là để cho bất cứ độc giả nào cũng có thể bỏ tiền ra mua. Mà loại độc giả ông nhằm nhiều nhứt là trẻ em và phụ nữ” (Tuyển tập Vũ Bằng, Tập 1 – sđd, tr.362).
Vũ Đình Long là người hết sức cẩn thận, có trách nhiệm với những sản phẩm văn hóa do mình làm ra chứ không phải chỉ là làm sao kinh doanh được nhiều sách, thu nhiều tiền. Các công việc rất kì công như đọc bài vở của độc giả, các cộng tác viên rồi cách xếp đặt trang báo, trình bày hình vẽ, tuyển chọn tiểu thuyết nước ngoài để dịch đăng... đều do Vũ Đình Long trực tiếp làm. Vũ Bằng kể: “Qua những câu chuyện, lần lần tôi được biết ông Vũ Đình Long tự tay làm hết các công việc của báo: từ việc đọc các bài của độc giả - trừ mấy bạn cộng tác thường xuyên như Nguyễn Trẩm Giự, Lan Khai, Vũ Lang, Ngọc Giao, Thanh Châu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan – đến cách xếp đặt trang báo, trình bày tranh vẽ, chọn lựa tiểu thuyết Tàu, Tây để dịch” (Sđd, tr.361).
Vũ Đình Long không ngừng suy nghĩ để cải tiến chất lượng sách báo, ra hình thức nào bổ sung để thu hút độc giả, ra thêm loại ấn phẩm nào để nhắm đến đối tượng nào. Tiểu Thuyết Thứ Bảy sau một thời gian xuất hiện và trụ vững, Vũ Đình Long quyết định mở rộng phạm vi của tờ này, ra khổ lớn hơn và nhiều trang hơn: “(...) trước khi làm việc gì, ông Long tính toán rất kỹ lưỡng, cân nhắc lợi hại từng ly, nên Tiểu Thuyết Thứ Bảy khổ lớn lại chạy hơn khổ nhỏ, và cũng vì thế, số anh em viết văn qui tụ về nhà xuất bản Tân Dân mỗi ngày mỗi đông hơn” (Vũ Bằng, sđd, tr.362-363). Tiểu Thuyết Thứ Bảy không chỉ tăng về khổ và số trang mà một loạt chuyên mục mới cũng xuất hiện như “Biết Ai Tâm Sự”, “Để Cười Khi Chung Bóng”, “Ý Nghĩ Của Người Dạo Phố”... Có một lực lượng đủ lớn để phát triển Tiểu Thuyết Thứ Bảy, đến năm 1935 Vũ Đình Long quyết định một bước phát triển mới cho nhà Tân Dân bằng cách cho ra thêm tờ Phổ Thông Bán Nguyệt San mà số đầu tiên ra ngày 1/12/1936. Có hai cơ quan ngôn luận mạnh là Tiểu Thuyết Thứ Bảy nhưng dường như nhà Tân Dân vẫn không đủ đáp ứng độc giả và quan trọng hơn nữa, về phía nội lực, các nhà văn viết cho Tân Dân cũng cảm thấy cần phải mở rộng hơn nữa quy mô phát triển. “Thanh Châu và vài người bạn khác bàn với tôi nên mở rộng phạm vi hoạt động ra, chớ bao nhiêu anh em mà chỉ quy tụ ở vọn vẹn hai tờ Phổ Thông Bán Nguyệt San và Tiểu Thuyết Thứ Bảy e rằng chật hẹp. Tôi nảy ra ý muốn bàn với ông Long ra thêm một tờ báo nữa” (Sđd, tr.365) để “anh em có đủ chỗ thi thố tài năng và phô bày ý kiến” (Sđd, tr.374).
Nói đến đây nhiều người ngỡ rằng việc phát triển mở rộng của nhà Tân Dân là do Vũ Bằng cố vấn cho Vũ Đình Long nhưng sự thật không phải là như vậy. Vũ Bằng đã kể lại rất thành thật trong hồi ký của mình như sau: “Tôi thấy độc giả Tiểu Thuyết Thứ Bảy đã vững rồi, tôi thảo một thư rất dài gửi cho ông Long (...) đề nghị nên ra một tờ báo trẻ em. Lúc ấy, tờ “Cậu Ấm” của Thái Phỉ Nguyễn Đức Phong vừa đóng cửa, cả nước không có một tờ báo loại đó, nếu ra được thì không những có ích mà lại còn hy vọng chạy như Tiểu Thuyết Thứ Bảy, hay hơn thế.
Ba hôm sau, ông Vũ Đình Long không trả lời thư tôi. Nhưng đến ngày thứ bảy, ông trịnh trọng bấm chuông nhà tôi vào thăm, mang theo một tập giấy: ông ngồi sít lại tôi, thì thầm như buôn giấy bạc giả. Thì ra ông đã có ý kiến ấy từ lâu và bí mật cho tôi biết ông đã được phép xuất bản một tờ báo loại đó lấy tên là “Truyền Bá” từ hai tháng trước.
Ông đã vẽ ma két rồi. Kế hoạch bán báo như thế này. Trình bày như thế này. Chữ in như thế này. Đoạn phụ lục giúp bạn vui đọc như thế này. Ông Bằng xem đi rồi cho tôi biết ý kiến, đồng thời cũng nghĩ luôn cả các mục vui ở trang bìa 2,3 và 4, hay là ta để thêm 4 trang trong nữa để bạn đọc xem cho đã?...” (Sđd, tr.375).
Những thông tin mà Vũ Bằng thuật lại ở trên đủ chứng tỏ rằng Vũ Đình Long không những là người nhìn xa trông rộng mà còn là một người kín đáo và chắc chắn. Những cái gì phải được ông nghiên cứu thật kĩ lưỡng, lên kế hoạch đến gần như là chi tiết và có đủ điều kiện chín muồi ông mới công bố. Hơn thế nữa ở Vũ Đình Long còn có một năng lực làm việc tập trung rất cao độ. Khi ông làm việc gì là ông quyết làm cho bằng được. Trước một tháng để chuẩn bị cho sự ra đời của Truyền Bá trong đầu ông Long lúc nào cũng chỉ có hình ảnh của tờ báo ấy. Vũ Bằng kể: “Suốt một tháng, tôi sang nhà báo chỉ thấy ông Long nghĩ về tờ “Truyền Bá”, và bất cứ chuyện gì cũng quy về “Truyền Bá”. Ông Long và tôi chia nhau ra viết quảng cáo và lời phi lộ” (Sđd, tr.375)
Một chi tiết khác trong cuốn hồi ký vừa kể trên của Vũ Bằng hé lộ cho ta thấy đầu óc thương mại của Vũ Đình Long rất năng động. Nhà Tân Dân có đại lý không chỉ ở Việt Nam mà khắp cõi Đông Dương. Ông Long đã tính toán để làm sao cho các ấn phẩm đến ngày ra sẽ đồng loạt xuất hiện khắp cõi Đông Dương cùng một ngày, sẽ không có nơi nào bị chậm trễ do sự vận chuyển bưu điện. Trong tình hình giao thông vận tải lúc ấy ông Long đã có một phương án rất hay là in báo trước rồi gửi đi khắp các đại lý ở Đông Dương cho kịp ngày phát hành. Vũ Bằng kể lại chuyện đó như sau: “Báo in trước ba số để sẵn đấy, bắt đầu bán số 1 thì in số 4 (hầu hết các báo của nhà Tân Dân in như thế, vì vậy báo thứ bảy ra thì từ Nam Quan đến Cà Mau, nhà đại lý nào cũng có từ chiều thứ 6)” (Sđd, tr.375)
Nhà Tân Dân sau khi có Tiểu Thuyết Thứ Bảy,  Phổ Thông Bán Nguyệt San thì Vũ Đình Long tìm cách để tăng số lượng sách bán bằng cách cải cách hình thức và nội dung của Phổ Thông Bán Nguyệt San. Đó chính là Phổ Thông Bán Nguyệt San bìa màu ra số đầu ngày 16/1/1938. Vũ Bằng thuật lại chuyện này như sau: “Trong khi chờ phép tờ “Ích Hữu” (chi tiết này Vũ Bằng nhớ nhầm vì báo Ích Hữu số 1 ra ngày 25/2/1936 và Phổ Thông Bán Nguyệt San số đầu tiên cũng ra ngày 1/12/1936 – V.Đ.H)  ông Long đưa ra thêm một sáng kiến: thay vì tờ “Phổ Thông” ra mỗi tháng một số đăng trọn một truyện dài (loại bìa xanh), ông cho ra thêm một loại nữa (loại bìa vàng). Thực ra, truyện của hai loại này không cách biệt nhau nhiều lắm, nhưng ra thêm loại vàng, chúng tôi có ý kết hợp thêm nhiều nhà văn, nhà báo, mà cũng là để cho báo chạy nhiều hơn nữa, vì loại này bán rẻ hơn. Về phương diện thương mại, sáng kiến ấy đem lại một kết quả tốt đẹp: “Phổ Thông Bán Nguyệt San” cả hai loại xanh, loại vàng đều chạy hơn”. Vũ Bằng thuật chi tiết hơn tài thương mại của Vũ Đình Long ở đoạn tiếp theo: “Hai loại này, đánh số 1, 2, 3... riêng biệt, có một cái lợi khác là ai đã mua báo cũng đều muốn cho đủ bộ để bày tủ sách gia đình, không thiếu một số nào. Vì thế, ai đọc quảng cáo của nhà Tân Dân đều thấy ông Long rất chú ý đề rõ giá báo và nhấn mạnh độc giả nên mua cho đủ số thứ tự, đừng để thiếu, e mất giá trị của tủ sách gia đình” (Sđd, tr.376-377). (Thực ra đoạn này nhà văn Vũ Bằng có sự nhầm lẫn vì Tân Dân không có loại Phổ Thông Bán Nguyệt San bìa xanh hay bìa vàng mà chỉ có hai loại Bìa trắng và Bìa màu. Chúng tôi sẽ nói chi tiết trong mục các ấn phẩm của nhà Tân Dân trong phần tiếp theo của luận văn – V.Đ.H). Việc khuyên mọi người nên mua đủ bộ các ấn phẩm của Tân Dân cũng được Vũ Đình Long nhắc đến một cách rất khéo léo ở tạp chí Tao Đàn. Ở Tao Đàn số 1 ngay trang 1 có một mục như sau: “Điều chú ý – mỗi số Tao Đàn 100 trang cả bìa. Ba tháng 6 số 600 trang có thể đóng làm một quyển báo đẹp. Nên đóng cả bìa cho đủ mục lục, tiện sự tra cứu. Cần giữ đủ từ số 1, để mất, về sau khó lòng mua được”.
Một trong những tư liệu rất quý để chúng tôi nghiên cứu về Vũ Đình Long là những hồi ký, ký ức, những câu chuyện kể lại của các nhà văn thuộc nhóm Tân Dân như vừa dẫn ở trên (Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng...), trong số đó không thể bỏ qua nhà văn Ngọc Giao. Một cây bút trụ cột của nhà Tân Dân, cụ thể hơn là tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Trong bài viết Chủ nhà in, nhà xuất bản Tân Dân – Ông Vũ Đình Long đăng trên Tạp chí Văn học, số 1 – 1991 (Dẫn lại theo sách Hà Nội cũ nằm đây – Ngọc Giao, NXB Phụ Nữ 2010) Ngọc Giao đã dựng lại cho chúng ta một bức tranh chân dung chân thực cả về ngoại hình lẫn tính cách của Vũ Đình Long và vai trò to lớn của ông trong xây dựng nhóm Tân Dân phát triển mạnh mẽ đến như thế trong những năm 30, 40 của thế kỉ trước. Ngọc Giao kể về ngoại hình và tính tình của Vũ Đình Long như sau: “Vũ Đình Long, tính tình điềm đạm, nhiều cơ mưu, giỏi cả Hán văn lẫn Pháp văn. Ông to béo, khá cao, da đen sạm, đi lạch bạch”. Như trên chúng tôi có đề cập, Vũ Đình Long là người rất biết trân trọng các tài năng văn chương đương thời và do đó đã tập hợp được một đội ngũ đông đảo các văn sĩ trí thức cả Hán học lẫn Tây học về làm việc cho mình. Ngọc Giao viết: “Trong giao dịch với nhà văn, ông luôn tỏ ra cực kì lịch sự, trọng hiền đãi sĩ. Nghe nói đến một văn gia nào có tài năng, ông Long vội viết thư mời cộng tác. Về vấn đề tiền trả nhuận bút, ông rất sòng phẳng, rất thủ tín, nhờ vậy, số lớn nhà văn ở suốt Trung, Nam, Bắc vui vẻ viết cho ông”. (Sđd, tr.249-250). Ở một đoạn khác Ngọc Giao cũng đánh giá Vũ Đình Long là người có đầu óc hơn người ở việc tính toán một cách rất khoa học trong quản lý công việc, tổ chức sản xuất bài vở và các ấn phẩm báo chí. Xin trích: “Xưởng in tổ chức rất quy củ. Năm 1937, phá nhà in cũ, xây nhà in lớn, máy in, chữ in đặt mua tại Pháp, loại hiện đại”. Ở một đoạn khác Ngọc Giao kể: “Ông Vũ Đình Long có đầu óc làm ăn lớn về ấn loát tối tân, cũng như tổ chức nhà xuất bản có khoc học. Xu hướng của ông là cố gắng noi theo tổ chức văn học của Editions Flammarion và Librairie Hachette – hai nhà xuất bản vĩ đại của Pháp”. Vào thời điểm đông nhất nhà in Tân Dân có tới 500 công nhân làm việc không kể đội ngũ các nhà văn chủ chốt và cộng tác lên đến hàng chục người.
Nhờ sự đối xử rất mực thẳng thắn, rõ ràng và “trọng hiền đãi sĩ” Vũ Đình Long đã tập hợp được một đội ngũ nhà văn đương thời là những cây bút nổi tiếng ở cả hai nền học vấn tân học và cựu học. Ngọc Giao kể lại như sau: “(...) cách đối xử với đội ngũ nhà văn khá mạnh của ông Vũ Đình Long trước sau luôn tỏ ra trang trọng, chân thành. Trong đội ngũ ấy, anh em văn hữu của nhà xuất bản Tân Dân suốt Trung, Nam, Bắc tập hợp cung cấp văn phẩm cho ông Long đều đặn, dịch hầu hết các tác phẩm phương Tây từ cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại. Đội ngũ ấy có hai mảng thành phần: bút lông và bút sắt. Bút lông: cụ bảng Mai Đăng Đệ, cụ cử Phan Kế Bính, Sở Bảo Doãn Kế Thiện, Nhượng Tống, Nguyễn Can Mộng, Phan Khôi, Tản Đà, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Nguyễn Đỗ Mục... Các ông không khoa bảng: Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, thi sĩ Lê Bái (bút danh J.Leiba Thanh Tùng Tử - Hán học và Pháp học đều uyên thâm)...
Bút sắt: Hiên Chi Nguyễn Văn Chất (viết báo Pháp nhiều hơn viết báo Việt), Lan Khai (viết tiểu thuyết lịch sử nổi danh), Vũ Trọng Phụng, Tchya, Phùng Tất Đắc (Hán học và Pháp học cũng vào bậc uyên bác), Lê Văn Trương (“tiểu thuyết người hùng”, viết khỏe nhất, nhiều độc giả nhất miền Nam cũng như miền Bắc), Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Vũ Bằng, Ngọc Giao...”(Sđd, tr.250-251).
Với sự tính toán cẩn trọng và hơn người ở tầm nhìn, sự ứng xử có văn hóa và rõ ràng Vũ Đình Long đã xây dựng nhà xuất bản Tân Dân thành một đế chế văn hóa nghệ thuật hùng mạnh vào bậc nhất ở Việt Nam. Cho đến ngay cả giờ phút này chưa có một tổ chức văn hóa hay xuất bản nào ở Việt Nam có thể so sánh với quy mô của nhà Tân Dân ở vào thế kỉ trước. Về sự lớn mạnh khổng lồ của nhóm Tân Dân ta có thể tưởng tượng được qua một đoạn mà Ngọc Giao kể lại như sau: “Trước một địch thủ “sức mạnh muôn người” như Nhà xuất bản Tân Dân 93 Hàng Bông, các nhà xuất bản khác trong Hà Nội hoảng sợ, song không có cách gì hạ được họ Vũ, mà chỉ còn cách ngồi nhìn tiền bạc trôi vào quỹ sắt nhà họ Vũ như thác đổ. Thật vậy, phải nói là tiền độc giả Trung, Nam, Bắc đổ vào nhà họ Vũ Đình Long như nước vở đê” (Hà Nội cũ nằm đây, tr.254). Nhà Tân Dân do Vũ Đình Long đứng đầu đã  có một hệ thống phát hành  khắp Đông Dương gồm hàng ngàn đại lý. Trong nước thì từ Lạng Sơn đến Cà Mau, trong xứ Đông Dương thì tới tận Nam Vang, Viên Chăn... Các hệ thống đại lý này hết sức sòng phẳng và gắn bó với nhà Tân Dân do được một tỉ lệ hoa hồng cao từ 8 đến 10%. Quả thực, vào thời điểm đó, có thể nói chỉ duy nhất nhóm Tự Lực Văn Đoàn với hai tờ tuần báo nối tiếp nhau là Phong Hóa và Ngày Nay là một phản lực lớn nhất đối với Tân Dân. Song cách mà Tự Lực Văn Đoàn cạnh tranh với Tân Dân xem ra khá hài hước và ngộ nghĩnh, nhiều lúc nó lại làm lợi cho nhà Tân Dân. Nhưng quan trọng hơn cả là thái độ của Vũ Đình Long đối với hành động đó của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Vũ Đình Long không “ăn miếng trả miếng” mà vui vẻ quan sát tình hình rồi cười lớn mà rằng chính Tự Lực Văn Đoàn đang quảng cáo không công cho mình. Ngọc Giao kể lại chuyện đó một cách hài hước như sau: “Hàng tuần tớ Phong Hóa rồi tiếp đến Ngày nay, cơ quan ngôn luận của nhóm Nhất Linh, thẳng tay lôi Vũ Đình Long lên mặt báo, sử dụng tranh trào phúng, thơ văn hài hước, gọi Nhà xuất bản Tân Dân 93 Hàng Bông là động Tân Dân, Vũ Đình Long là Tiên ông Vũ Đình Long phun kiếm ra tiền (tranh bìa, tranh ruột báo hàng tuần, họa sĩ Tô Tử [tức Tô Ngọc Vân – V.Đ.H] vẽ Vũ Tiên ông hếch mũi lên trời, kiếm ở hai lỗ mũi phun ra tơi tới, tiền theo kiếm ào ào chảy vào tay áo thụng của Vũ Tiên ông. Ngoài cửa Nhà xuất bản, tức là ngoài cửa động Tân Dân, cả gia đình họ Vũ, từ Tiên mẫu, Tiên bà, Tiên cô... đến các Tiểu Tiên đồng, giúp Tiên ông, đem rổ rá ra hứng tiền độc giả mê say sách thần tiên kiếm hiệp).
Mỗi thứ Bảy, báo Phong Hóa, Ngày Nay của nhóm Nhất Linh rao ầm ĩ ngoài phố, chạy vào mọi gia đình thị dân Hà Nội, (cũng với tốc độ ấy, Tiểu Thuyết Thứ Bảy chạy có phần nhích hơn Phong Hóa, Ngày Nay). Vũ Tiên ông cùng Tiên mẫu, Tiên bà, Tiên cô, Tiên đồng, không những không giận nhóm Nhất Linh, mà còn tỏ ra thích thú, nói cười ran động. Vũ Tiên ông khoái trí, coi đó là địch thủ Tự lực văn đoàn đang làm quảng cáo không công cho Vũ Tiên ông” (Hà Nội cũ năm đây, Sđd, tr.254-255).
Một vấn đề lớn khác đặt ra khi nghiên cứu về Vũ Đình Long với tư cách là ông chủ xuất bản, đó là Vũ Đình Long có thuộc dạng những chủ tư bàn bóc lột anh em văn nghệ sĩ hay không? Đây đó có nhiều tư liệu tản mát, bài viết đưa ra một vài sự kiện để chứng tỏ rằng Vũ Đình Long là một tay buôn chữ chứ không phải là một người hoạt động văn chương nghệ thuật. Tiêu biểu nhất trong số đó là một bài thơ của Trần Huyền Trân viết vào năm 1940 có nhan đề “Đời một nhà văn” mà trong đó có những câu như sau:
Đã có lần khói bếp không lên
 Vợ ngược con xuôi túi hết tiền
 Chồng gục cả lòng trên giấy mực
 Đen ngòm mặt đất tối như đêm
 Trang lại trang máu lẫn mồ hôi
 Từng dòng tay bút đã buông xuôi
 Giữa khi ông chủ buôn văn ấy
 Tiệc rượu lầu cao ngả ngốn cười"
 (Đời một nhà văn).
Trần Huyền Trân chủ yếu viết đăng trên các ấn phẩm của nhà Tân Dân như Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Truyền Bá, Phổ Thông Bán Nguyệt San nên khi đọc những dòng thơ ai oán đó, ai cũng dễ hình dung rằng cái “ông chủ buôn văn” đang “tiệc rượu lầu cao ngả ngốn cười” kia chính là Vũ Đình Long. Nam Trân trong bài viết “Vũ Đình Long – chủ nhân Tân Dân động” đăng trên website An ninh thế giới cuối tuần ngày 09/03/2009 đã dựa vào những thông tin của Vũ Bằng – một cây bút trụ cột gắn bó với nhà Tân Dân trên dưới 10 năm trời – kể lại trong bài viết "Phong Di Vũ Đình Long, ông tiên trong động Tân Dân", in trong "Văn học, giai phẩm" tại Sài Gòn, số ra ngày 15/5/1973 đã phá được nghi án đó như sau. Chúng tôi xin thuật lại: “Những ai quan tâm tới văn học sử Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 hẳn đều biết rằng, như nhiều người cùng thời, viết văn là sinh kế duy nhất của Trần Huyền Trân, và tác phẩm của ông chủ yếu được ấn hành ở Nhà xuất bản Tân Dân hoặc được đăng tải trên các tờ báo do Vũ Đình Long làm chủ.
Như vậy thì "ông chủ buôn văn" mà Trần Huyền Trân nhắc trong bài liệu còn có thể là ai khác? Câu thơ, tự nó đã mang dáng dấp một sự lên án những kẻ trục lợi trên lao động tinh thần đầy cực nhọc của lớp người sống bằng nghề viết văn viết báo! Tuy vậy, con người thực của Vũ Đình Long không hẳn đã là như thế. Trần Huyền Trân nói tới "tiệc rượu lầu cao ngả ngốn cười", nhưng trong thực tế thì, như Vũ Bằng cho biết, Vũ Đình Long bị đau bao tử và đau tim hay đau gan gì đó, ông lại là người rất quan tâm đến sức khỏe của bản thân mình, nên chẳng mấy khi ông sa vào những cuộc hưởng thụ đầy chất phú hộ như vậy.
Vũ Bằng khẳng định: "Ông Long không uống rượu, không hút thuốc, không say mê thứ gì cả, chỉ say mê viết kịch và làm báo, say mê đọc sách báo Tây Tầu để tìm kiếm sáng kiến mới, mới luôn luôn, trước là để khuếch trương nghề nghiệp của mình mà sau là để mong có một ngày kia theo kịp đà tiến của báo chí Âu Mỹ và Nhật Bổn". Không nên quên rằng Vũ Bằng là người trông nom bài vở cho các tờ báo của Vũ Đình Long suốt mười một năm trời, ông hiểu Vũ Đình Long hơn nhiều người khác, và ông đã tâm sự rất thành thật trong bài viết của mình: "Ông Long bây giờ đã ra người thiên cổ, mà tôi cũng không còn trẻ trung để tính chuyện gì xa xôi với các người kế nghiệp của ông, nên tôi thấy không có cớ gì để nói tốt cho ông ấy cả". Chúng tôi cũng xin đưa ra thêm một bằng chứng nữa để củng cố thêm cho những dẫn chứng mà Hoài Trân vừa nêu. Cũng trong hồi kí “Bốn mươi năm nói láo” Vũ Bằng đã kể lại một đoạn như sau về Vũ Đình Long: “Hầu hết anh em thỉnh thoảng lại về trụ sở Tiểu Thuyết Thứ Bảy để hội với nhau, mỗi khi có việc quan trọng như ra số Tết, hay ra số đặc biệt; nhưng vì bịnh tim nên ông Long ít khi ra thù tiếp được. Đại diện có Nguyễn Khánh Đàm (em Nguyễn Tuân), Trầm Kim Dần, phụ trách trị sự những tờ báo của nhà Tân Dân và coi về nhà in, cùng tôi đưa các bạn ấy đi ăn, đi hát hay đi hút. Vì ít trực tiếp giao thiệp với ông Long, nhiều anh em không hiểu ông và tưởng ông là một lái sách. Thực ra, ông là một người cần mẫn, có tài, có học và có nhiều kinh nghiệm về nghề làm báo. Tôi học được ông rất nhiều trong tám, chín năm hợp tác” (Tuyển tập Vũ Bằng, tập 1, sđd, tr.380).
Sau biết bao năm tích góp từ khi còn ở quy mô hiệu sách nhỏ, với số vốn ban đầu là 800 đồng bằng tài năng của mình Vũ Đình Long đã đưa Tân Dân thành một tổ hợp xuất bản lớn thuộc loại hạng nhất của Hà Nội lúc bấy giờ với lực lượng lao động lên đến quá bán nghìn người và số vốn khổng lồ. Có thể nói không quá rằng Vũ Đình Long đã gây dựng Tân Dân không chỉ là một nhóm văn học hoạt động sôi động vào bậc nhất lịch sử văn học Việt Nam trong suốt một thập niên (từ 1934 đến 1945) mà còn là có người có công rất lớn trong công cuộc tạo dựng một môi trường hoạt động văn chương chuyên nghiệp, hình thành nên một tầng lớp văn nghệ sĩ chuyên nghiệp ở Việt Nam. Qua những ấn phẩm của mình nhà Tân Dân mà cụ thể hơn là Vũ Đình Long đã nâng đỡ, nuôi dưỡng và phát triển biết bao nhà văn mà sau này đều ghi danh vào lịch sử văn học hiện đại Việt Nam là những nhà văn lớn: Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Lan Khai, Vũ Bằng... Chúng tôi xin dẫn ra đây đánh giá của Phạm Thế Ngũ về vai trò của nhà Tân Dân và ông chủ của nó: “(...) người viết văn học sử xét về những hoạt động của nhà Tân Dân không thể không thừa nhận một sự thật khác, ấy là công đóng góp của nhà ấy cho văn học. Những cơ quan của nhà Tân Dân cũng đã là nơi xuất phát và gầy nuôi lắm cây bút ít nhiều có giá trị. Nhất là sự phát đạt của công việc chứng tỏ nhà xuất bản đã biết đem lại cho công chúng những thức ăn mà họ mong muốn”. Có thể nói, trong một thập niên cuối cùng của nửa bán thế kỉ trước của thế kỉ XX, trong cái “trường văn học” – nói theo ngôn ngữ của nhà xã hội học pháp Pierre Bourdieu (dẫn theo Ba thập niên đầu thế kỉ XX và sự hình thành trường văn học ở Việt Nam – Phạm Xuân Thạch, in trong Nghiên cứu văn học Việt Nam – Những khả năng và thách thức, NXB Thế giới 2009) – thì nhóm Tân Dân dưới sự điều hành của Vũ Đình Long thực sự đã tạo ra một vị trí khổng lồ mà ít có nhóm văn học nào đương thời có thể sánh được.
Tuy nhiên, như là một định mệnh, cùng với lịch sử dân tộc bước vào một thời kì đau thương nhất, “một cổ hai tròng”, khi Nhật vào Đông Dương nhà Tân Dân cũng vì thế mà suy yếu dần. Vũ Bằng kể: “Truyền Bá đóng cửa lúc Nhựt Bổn đánh Pháp cùng với Phổ Thông Bán Nguyệt San. Nhà in Tân Dân dọn về Mục Xá (Hà Đông) tức là quê ông Vũ Đình Long. Cọc cạch chỉ còn lại Tiểu Thuyết Thứ Bảy ra khổ 45x30, nghiêng về chánh trị, rồi lại khổ 7,5x11 chuyên về nghiên cứu văn học, nhưng trong suốt thời gian Nhật thuộc, Tiểu Thuyết Thứ Bảy không còn cách nào sống lại được những buổi huy hoàng khi trước nữa”(Tuyển tập Vũ Bằng, Sđd, tr.8 ). Lí do có thể nhiều: Thời cuộc biến đổi, nhất là chế độ kiểm duyệt chặt chẽ của Nhật đã khiến hàng trăm, hàng ngàn nhà văn nhà báo bị bắt. Khi ấy, đời sống văn chương lùi lại thứ yếu, nhường chỗ cho đời sống cách mạng sắp lên đến đỉnh điểm. Và quan trọng hơn, sức khỏe của Vũ Đình Long do bệnh tim nên cũng yếu hơn nhiều khiến ông không đủ sức để vực dậy thời hoàng kim của Tân Dân. Sau cách mạng tháng 8 Vũ Đình Long tiếp tục viết kịch, duy trì nhà xuất bản Tân Dân và tục bản Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san. Vũ Bằng thuật: “Tôi để tâm nhiều hơn đến hai tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy và Phổ Thông Bán Nguyệt San mà tòa soạn lúc ấy chỉ còn có hai người là ông Vũ Đình Long và tôi. Sau hàng chục năm chỉ lo về việc điều khiển báo, ông Long lại bắt đầu viết lại và chính trong thời kì này, ông đã phóng tác nhiều vở kịch cổ điển của Pháp như Le Cid, Polyeucte, Britannicus... ”. Tiếng vang của tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy và Phổ Thông Bán Nguyệt San từ trước cách mạng tháng Tám lúc này nhiều phe phái muốn nhảy vào nắm lấy. “Lúc này, Nguyễn Hữu Trí làm thủ hiến, nhiều người cấp dưới dựa thế ông nay tố chuyện này, mai tố chuyện kia, muốn đóng cửa Tiểu Thuyết Thứ Bảy, “vì có nhiều bài thân kháng chiến”. Thừa dịp ấy, bọn hạ cấp đên tâng công với ông Vũ Đình Long, một mặt giở cái giọng làm tiền, mặt khác lại manh tâm xông vào nhà Tân Dân để nắm lấy hai tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy và Phổ Thông Bán Nguyệt San, nhưng mưu định của họ không thành, vì ông Vũ Đình Long là một người ngoài mặt thì hiền lành, không muốn sanh chuyện lôi thôi, nhưng bên trong thì cương quyết lạ lùng, không để cho ai khống chế. Ông bàn với tôi đóng cửa hai tờ báo để bọn mật thám đỡ lôi thôi. Thực ra, ông Long muốn đóng cửa hai tờ báo ấy đã lâu, vì lúc ấy không những người giúp việc đã thiếu, công việc nhà in lại không có gì, mà sự giao thông chuyên chở, cũng như vấn đề kỹ thuật, gặp khó khăn quá nhiều”(Tuyển tập Vũ Bằng, Sđd, tr.444).  Vũ Bằng ở lại bên Vũ Đình Long duy trì tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy và Phổ Thông Bán Nguyệt San cho đến khi ông xuống Hải Phòng theo tàu vào Nam năm 1954. Vũ Bằng nhớ lại: “(...) tôi chỉ còn hai tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy và Phổ Thông Bán Nguyệt San. Ông Vũ Đình Long và tôi làm việc tằng tằng để đợi cơ hội thuận lợi thì đóng cửa. Báo không lỗ vì ông Long là người tính toán rất hay; nhưng dù sao, thì cả hai tờ báo ấy cũng chỉ là những bóng ma của một thời vàng son đã qua rồi” (Sđd, tr.445).
*
*        *
Qua những thông tin mà chúng tôi đã nghiên cứu được về Vũ Đình Long qua khai thác các tư liệu từ hồi ký của các nhà văn, các nhân vật có liên quan đến cuộc đời Vũ Đình Long và nhà xuất bản Tân Dân như đã trình bày ở trên, chúng tôi có một số kết luận quan trọng sau:
1). Vũ Đình Long ghi dấu ấn không thể xóa nhòa trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại với tư cách là một kịch tác gia đầu tiên.
2). Vũ Đình Long là người đã gây dựng và phát triển một nhóm văn học với một lực lượng đông đảo và hùng hậu các nhà văn có tiếng đương thời quy tụ chung quanh nhà xuất bản Tân Dân với các ấn phẩm: Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Ích Hữu, Tao Đàn, Truyền Bá.... Vũ Đình Long là người đã định ra những bước đi chiến lược, đặc biệt quan trọng trong việc phát triển nhà xuất bản Tân Dân qua việc chuẩn bị kĩ lưỡng và quyết định những thời phù hợp để xuất bản các ấn phẩm văn chương phù hợp với thời thế. Vũ Đình Long đã ứng xử dựa trên Tâm và Tài đối với các nhà văn làm việc chung quanh mình nên đã quy tụ được một đội ngũ hùng hậu vào bậc nhất các nhà văn danh tiếng đương thời về với Tân Dân.
3). Vũ Đình Long đã có công rất lớn trong sự phát triển văn hóa của dân tộc nói chung và văn học nói riêng qua một khối lượng những tác phẩm khổng lồ của nhà Tân Dân trong hàng chục năm trước và sau cách mạng, nhất là giai đoạn trước cách mạng. Dưới sự quản lí và điều hành của ông, nhà Tân Dân đã có công rất lớn trong việc phát triển và quảng bá văn học trong quảng đại quần chúng, nhất là thể loại tiểu thuyết.
4). Vũ Đình Long từng có khát vọng xây dựng một “đế chế” văn hóa của riêng mình, làm nên tên tuổi riêng Tân Dân trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Ông muốn nhà Tân Dân trở thành một tổ chức văn học vĩ đại như hai nhà xuất bản vĩ đại của Pháp là Editions Flammarion và Labrairie Hachette. Với trên 10 năm tồn tại và hoạt động (tính đến thời điểm nổ ra cuộc Cách mạng tháng Tám) Vũ Đình Long thực sự đã làm nên một Tân Dân khổng lồ trong lịch sử văn hóa, văn học dân tộc.

© 2012 Blog NXB Tân Dân