Tìm kiếm Blog này

Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
TIỀN BẠC CHI TIÊU RỒI CŨNG HẾT, CHỮ ĐỂ MAI SAU NGHĨA MÃI CÒN

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

TÔI MỚI THẤY BÀ



Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

Cái ngày mà ông ấy bắt được quả tang bà ấy “nói chuyện” với trai ngay ở trong buồng đến nỗi hai người đánh nhau một trận ra tuồng mà bà con ta xúm đông xúm đỏ ở trước cửa để xem, thì ai tưởng đâu có ngày nay, ông bà ấy lại hòa hợp vui vẻ được nhỉ!
Hẳn cũng chửa ai quên được cái câu đau đớn mà bà ấy mỉa chồng. Phải bà ấy gọi lũ con nhỏ ra đứng trước mặt, rồi trợn mắt, nghiến răng ken két, chỉ tay và nói:
- Đừng hợm! Tưởng cái mặt ấy mà đẻ nổi những con như thế này phải không?
Ấy mới nguy! Thế ra thằng Lê, con Lý, thằng Đào là con ai kia đấy! Trong khi quá giận, bà ấy đã vô tình công khai cái lý lịch hay ho!
Khốn nạn, lũ trẻ con chẳng hiểu chuyện gì, chúng nó thấy ba và má cãi nhau, thì sợ hãi, rồi dần dần, lần ra sau nhà đánh đáo.
Mà khốn nạn hơn nữa là lúc ông ấy được nghe câu nói ấy. Thật chẳng khác gì là bị tiếng sét đánh ngang tai. Ông ấy rú lên một tiếng, rồi gục đầu xuống bàn huh u khóc.
Thật là một sự ông ấy chẳng ngờ. Mà bà con ta cũng chẳng ai dám ngờ là lũ con ấy chẳng phải ông có công đúc cốt. Phải, đèn nhà ai nhà nấy rạng, chứ ai rỗi hơi mà xem xét đến những cái không quan hệ đến mình. Ta có biết gia đình ấy, thì họa chăng từ khi ông ấy bổ về tỉnh nhà, ta chỉ biết ông ấy khinh người bằng nửa con mắt, bà ấy hợm hợm chảy ra mà thôi. Chứ còn cái thằng Lê, con Lý, thằng Đào, với cái hạnh kiểm đáng phục của bà ấy, thì không mồm bà ấy phun ra, có họa thiên lôi biết!
Mà thật, những đứa bé con nhà ông ấy đứa nào cũng phốp pháp, mũm mĩm, tươi tỉnh, thật trái với ông ấy, đã gầy như cái que, mà mặt mũi lúc nào cũng khó đăm đăm, nhăn nhó như cái thằng đau bụng. Nhưng ta có thể tưởng là những đứa trẻ ấy giống máu mẹ, vì bà ấy là một “con bò cái chắc chắn” béo nùng nục, nhất là đôi môi, vừa ướt vừa dầy. Gia dĩ bà ấy đẹp, và thích trẻ. Năm ấy đến bốn mươi tuổi đầu rồi chứ còn ít gì, thế mà vẫn còn làm đỏm như cô con gái thèm chồng. Thấy người ta quần trắng, bà cũng quần trắng, thấy người ta rẽ bên, bà cũng rẽ bên. Nhưng, lạy thành […] chứ khi bà ấy ăn mặc, đánh phấn […] thì ngay ngoan ngoãn như tôi đây, cũng phải trố mắt, ngây người mà nhìn và nuốt nước dãi. Đẹp thật!
Nhưng mà ông ấy có kém vẻ tân thời chút nào đâu? Bà rẽ lệch thì ông cũng rẽ lệch. Bà áo xa-tanh xúp dài gần tới mắt cá, thì ông cũng áo xa-tanh xúp dài xuống đến bắp chân. Bà quần trắng thì ông cũng quần trắng. Thua gì? Mà ông lại còn tiến hơn bà một bậc, là ông để răng trắng và có cả áo ba-đờ-xuy nữa. Thế thì bà không cảm ông, thì cảm ai?
Nhưng than ôi! Ông ấy cũng tân thời lắm đấy, nhưng không phải! Những hàm răng trắng, những đầu rẽ lệch, những quần trắng, những áo thướt tha dài, mà ở đàn bà, thì nó thành ưa nhìn, chứ mà đàn ông chúng ta, nhất là hạng thiếu niên ta, sống trong thể kỷ thứ hai mươi này, mà còn giữ mãi bộ áo quần quốc túy, thì ăm thưa gì? Có khi mặc thế mà đi hỏi vợ, thì Cẩm tha phạt cho đã là tốt phúc đấy!
Đối với những bà vợ ấy, thì ông chồng phải béo, tốt, khỏe, đẹp, vui vẻ, trung thành, vân vân, vân vân, mà bề ngoài phải mặc quần áo tây đầu chải thật bóng, râu ria cạo cho nhẵn thín, lúc nào cũng phải có cặp kính đồi mồi nó nhong ếp trên sống mũi. Nghĩa là vừa có vẻ hung hồn, vừa ra nhà học giả. Chứ mà lủn củn lùn cùn như ông ấy thế kia thì “về”!
Bởi vậy chẳng được chồng béo, tốt, khỏe, đẹp, vui vẻ, trung thành, mà đến cả cái vân vân vân vân, cũng chẳng có, nên chắc rằng bà phải sưu tập một vài người chồng dự khuyết, để khi ông có việc đi vắng nhà là bà cho mời đến đánh tổ tôm, hút trứng la-coóc, rồi vô phép ông Tơ!
Ờ! Thế mà tài thật! Những cuộc ái tình vụng trộm  ấy có phải nó đi không để lại dấu vết đâu mà anh chồng không biết nhỉ! Kìa! Thằng Lê, con Lý, thằng Đào, là ba cái chứng cớ; trước kia, chúng nó chửa ra đời, thì bà ấy còn giấu giếm ở tận đáy lòng, nhưng một ngày bụng dạ bà ấy  một rõ rệt ra, rồi mà có lẽ vì ông vẫn không ngờ vực vợ, nên tức mình, chúng nó mới dần dần rủ nhau chui tọt cả ra ngoài cho ông xem để ông hiểu!
Nhưng vì ông không hiểu: cái nghĩa bóng của sự đẻ con, nên ông yêu chúng nó hết sức, và khi thấy vợ diếc móc mình không đẻ nổi lũ con như thế, ông mới như nghe tiếng sét đánh ngang tai!
Rồi cũng vì câu nói đó, mà ông làm đơn xin ly dị vợ, và trong khi đợi tòa xử, ông còn ốm, ốm đến mấy tháng, tưởng chẳng còn sống được đến ngày nay.
Thương hại quá! Ngày ấy ông ốm có mỗi một mình, chẳng có ai trông nôm săn sóc cho cả, vì vợ ông, chẳng đợi gì pháp luật, ngay sau khi mắng chồng câu ấy, bà quát con Sen xếp va ly quần áo để ra ga, về Hà Nội. Trước khi lên xe, bà vẫn còn giận lắm, bà nhìn ông thổn thức, bà cười gằn, rồi nguýt một cái đến dài và nói:
- Để bà xem đứa nào cần đứa nào!
*
Rồi chẳng biết tòa không chiều ý ông, hay đứa nào cần đứa nào, mà sau ta lại thấy bà xách va ly cùng về với ông, hai người vui vẻ hòa hợp ở với nhau, thân mật như đôi tình nhân còn đương kỳ thề sống thề chết về danh dự.
Trông về ngoài gia đình ấy, đố ai không biết mà đoán được rằng nó đã có lần xuýt nữa thì tan nát, vợ một nơi, chồng một nẻo, mấy đứa con thì đầu đường xó chợ bơ vơ.
*
Nhưng trời già thật độc địa! Giữa cái lúc vợ chồng người ta đương hưởng cái lạc thú, đêm đềm của cảnh gia đình, thì ông Xanh đem ngay một cái tai vạ tầy đình đến. Ông ấy bị bắt quả tang làm một việc phi pháp.
Thôi hỏng! Phen này không tù cũng mất chức. Mất chức thì túng! Túng thì đói! Đói thì khổ to! Ấy thế mà còn tù thì, trời ơi! Mất vợ, mất con, mất cả cái để khói hương sau lúc chết!
Nghĩ đến tương lai, ông lo, ông hối hận, ông khóc lóc, rồi phát sốt phát rét, rên khừ khừ!
Suốt mấy ngày đêm, ông không ăn, không ngủ, ông nằm dí trên giường, như người ốm đợi chết đến nỗi bà phải gắt:
- Thì ông cũng phải dậy mà bàn tính công việc,, chứ chịu chết à?
Ông gượng ngồi, nhưng không đủ sức để dựng nổi cái lưng còm rỏm, ông bèn mặc kệ nó rơi lả xuống giường, rồi nhắm mắt, nói như mê sảng:
- Thôi, tội sờ sờ ra đó, còn làm gì được nữa.
Bà đập tay xuống bàn, cau mặt:
- Đàn ông mà hèn thế! Mới có thế đã hết vía lên rồi!
Rưng rưng nước mắt, ông run rẩy, đưa tay ra để nắm tay vợ và nói:
- Bà có nghĩ hội tôi cách nào không!
Bà ngắm chồng mà thở dài. Bà lắc đầu chép miệng, rồi tiến lại gần hơn, dịu dàng nói:
- Nếu ông cứ mặc tôi để tôi lo lắng, thì mười phần có thể chắc được chín rưỡi.
Mở choàng mắt ra, ông ngồi nhổm dậy ngơ ngác nhìn như tìm vị phúc tinh, rồi ngạc nhiên, hỏi vợ:
- Bà vừa nói gì?
- Nếu ông cứ mặc tôi để tôi lo lắng, thì mười phần có thể chắc được chín rưỡi.
Ông mừng rỡ, trợn mắt rõ to để chòng chọc nhìn vợ:
- Bà nói thật?
Bà quả quyết, gật đầu:
- Tôi chắc thế.
Ông nắm chặt tay bà, năn nỉ:
- Thế thì phúc nhà ta còn vượng. Sao bà không bảo ngay từ hôm nọ?
- Nhưng biết ông có bằng lòng giao cho tôi việc này không?
Gật lấy gật để, ông run run đáp:
- Sao không bằng lòng? Không bằng lòng để mà chết à?
*
Cuối năm ấy, một hôm, người ta thấy ông ngồi bên cạnh vợ bế đứa con mới đẻ.
Nhưng các ngàu đừng tưởng gia đình nhà ông đã trải qua cuộc tang thương đâu nhé. Này vẫn hoành phi, câu đối, này vẫn sập gụ, tủ gương, bao nhiêu vẻ choáng lộn, bao nhiêu vẻ đài các ngày trước hiện nay vẫn còn, mà thằng Lê, con Lý, thằng Đào bây giờ chiều chiều lại nhảy lên ô tô cho anh Tài vận đi về vùng nhà quê đổi không khí. Nghĩa là không có cái gì mất mát cả, mà ông bà ấy nhờ trời còn thêm được mụn con trai.
Ông ấy bế con, âu yếm, hôn hít bộ tóc vàng như tơ của nó, rồi nhìn vợ. Bà mỉm cười, khép lại cái ấp cho kín bụng thằng bé.
Bỗng ra vẻ nghĩ ngợi điều chi, ông ngậm ngùi thởi dài, rồi trông trộm vợ. Ngạc nhiên, bà hỏi một cách âu yếm:
- Ông có điều gì nghĩ ngợi?
Vẫn chưa thấy chồng trả lời, bà véo von ngâm:
- Đẻ ra, con thiếp, con chàng, con ai?
Ông mỉm cười, lắc đầu:
- Không phải, tại tôi nghĩ hối hận cái ngày dại dột làm giấy ra tòa độ trước!
Bà lườm yêu ông rồi mỉm cười.
Ông cũng mìm cười, hôn tóc, rồi nắm chặt tay vợ, gật gù đáp:
- Thoát được cái nạn năm ngoái, tôi mới thấy bà là có giá trị thật!
NGUYỄN CÔNG HOAN
(Tác phẩm đăng trên báo Ích Hữu)
© 2012  Blog NXB Tân Dân

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

QUAN LANG.... LỚN!



Tuy nổi cơ đồ về nghề bán thuốc ho, hen, tuy đã xử nhẹ với những người cùng chung huyết mạch với mình để chiếm lấy hai môn thuôc tổ phụ di truyền, nhưng ông Ba Bồ chẳng bao giờ chịu nhận mình là ông lang, mặc dầu thiên hạ vẫn coi ông là một ông lang danh tiếng.
Sự thật thì ông Ba Bồ cũng không có chút gì là “lang dạng”. Hai má phinh phính bánh đúc, bộ mặt tròn trĩnh như bánh dày bày mẹt, mép với cằm nhẵn thín, gần 40 tuổi mà ông còn hơ hớ như con trai trẻ măng.
Một tiếng Tây không biết, chữ Nho cũng ù cạc, nhưng ông mặc ta thì ra vẻ “nho đạo” mà diện tây cũng đúng “mốt A-đam”. Vì không có một luật lệ nào bắt người dốt nát phải ở truồng, nhất người dốt nát ấy lại là người nhiều tiền, nên bọn thợ may tha hồ đè ông ra mà đo, cắt.
Hai bàn tay trắng nuột của ông nó làm chứng cho rằng ông không bao giờ phải viên thuốc hay tán thuốc! Có lẽ ông Ba Bồ cho hai việc ấy là việc làm đê tiện nên không  tiện dịp nào có thể phô được mà ông khong phô hai bàn tay ông.
[…] người ta thấy ông đem bày cả ra tận ngoài đường. Hai bàn tay bắt chéo lên nhau rồi khẽ đặt giữa lòng, chẳng phải là biểu hiện của sự tương thân tương trợ […] hoặc trọng tình con bệnh với thày lang, vì đối với người bệnh, ông chỉ biết bóp cổ lấy tiền mà đối với thân thíc họ hàng thì ông mất lần lôi họ ra đe nẹt.
Khắc hẳn các bạn đồng nghiệp của ông đi bán thuốc ho hen, thuốc sài đẹn dong đường, ông Ba Bồ không có dây đeo lưng hay tay nải xách. Cả đến thuyền tán, ô kéo, dao cầu, ông cung không có nốt! Tủ kính hàng ông chỉ bày toàn liễn; giá ngoài hiên ông không yết bảng bán thuốc, thì người qua đường tất phải lầm nhà ấy là một cửa hàng bát liễn hay một… viện bảo tang!
Không sành chơi đồ sứ cổ nhưng thức gì người ta bảo là cổ, ông cũng cố mua cho được, vì ông cho chơi như thế là cách chơi của con nhà dòng sang. Cái sang ấy người ta thấy ông bày la liệt khắp nhà, la liệt khắp tường, ở những thống lớn, đèn con, đĩa tấc, đĩa thước.
Sự giàu sang, ông có thừa nhưng ông vẫn thèm muốn một chút danh, ngoài cái danh của nghề làm thuốc. Trong trí ông, một thày lang không bao giờ bằng một quan huyện nên ông thường dịch phục để tập cho có những dáng điệu và cử chỉ của các bậc phụ mẫu dân.
Những ngày khánh tiết, những dịp thành phố đưa đón các bậc thượng khách, chẳng có giấy người ta mời dự, ông cũng chịu khó cho sốp-phơ đánh ô-tô đi lộn sòng vào đoàn xe các quan. Lúc này, ông trút bộ âu phục ở nhà, bận áo dài quần chùng, khăn xếp, giầy ban, cổ lại để nửa kín nửa hở sợi dây kim-tông có lẽ chỉ là sợ dây buộc giấy chiếc thẻ bài cửu phẩm.
Mặc ta ngồi ô tô cầm lấy vô-lăng, sợ người ngoài lầm mình là sốp-phơ, bao giờ ông Ba Bồ cũng bắt sốp-phơ ngồi bên khoanh tay trước ngực. Rồi cái xe vô tội ấy phải nhiều lần qua lại các phố có người đẹp để những người ấy tha hồ mà đoản phỏng, tưởng lầm
Làm dáng cho mình còn chưa đủ, ông Ba Bồ lại còn làm dáng cho cả ô tô, xe nhà, phu xe, sốp-phơ của ông! Ô tô bốn còi, xe nhà hai đèn, sốp-phơ đủ blouse kespi, phu xe đủ nón chóp bông hèo và sà cạp.
Hai môn thuốc gia truyền ho hen đã làm ông có nhà lầu ô tô nhưng ông vẫn trách thầm tổ phụ ông sai lại đi “đâm” vào cái nghề giao cầu thuyền tán! Trông bóng trong gương, ông vẫn bảo thầm ông có bộ mã một quan huyện – hay ít nhất cũng một viên hậu tuyển tri huyện – thì sao “bà mẫu” ác nghiệt chẳng đẻ ngay ra ông làm quan huyện, lại đẻ ông ra làm một ông lang!
Làm quan giả dạng, làm lang bất đắc dĩ, ông Ba Bồ còn thêm nhiều “đức” nữa như thích trưng diện và hiếu danh.
Người ta liệt kê ông vào hạng “Lang Băm”; nhưng muốn tên gọi có tính cách giễu cợt đối với cái “tánh” thích làm “quan lớn” của ông, có người còn đặt thêm cho ông một chức nữa, một chức mà là một tên: “quan lang…lớn!”.
LINH PHƯỢNG
(Nguồn: Tác phẩm Quan lang...lớn! thuộc chuyên mục Tập Ảnh, đăng trên báo Ích Hữu)

© 2012 Blog NXB Tân Dân

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

Lời mở đầu tạp chí Tao Đàn

Dưới đây là nguyên văn bài "Cùng bạn đọc" của tạp chí Tao Đàn, đăng trên số 1 ra ngày ra ngày 1/3/1939. Qua bài viết chúng ta nhận thấy rất rõ ràng khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa tích cực của Tao Đàn mà nói rộng ra là của Tân Dân. Chúng tôi xin trích nguyên văn, những phần in đậm là do chúng tôi nhấn mạnh.
Bìa cuốn Tao Đàn số 1

 Cùng bạn đọc
Tình trạng thế giới hiện nay ví như một cuộc hội nghị lớn lao và ầm ĩ, trong đó người Việt Nam không được phép dự một nhời bàn. Thực là tủi nhục cho cái dân tộc đã có bốn ngàn năm lịch sử.
Sự tủi nhục đó nguyên do bởi đã thiếu một nền văn hoá. Thực vậy, dân tộc Việt Nam chưa từng có một nền văn hoá riêng. Về tư tưởng, về tôn giáo, về nghệ thuật cũng như về văn chương, dân mình, từ trước, vẫn chỉ sống với một mớ ý niệm tự Tàu đem sang. Tổ tiên mình đã say mê văn hoá Tàu đến nỗi cam tâm để cho tinh thần của chủng tộc bị tê liệt đi và bị sáp nhập vào trong cái văn hoá vĩ đại ấy. Kết cục: dân tộc mình thành ra một lũ người không có bản sắc, nhân cách và địa vị trong lịch sử thế giới, bị coi bất quá như một lũ học trò của Trung Hoa.
Bỗng, một cơn giông đã làm đổ gẫy cây văn hoá Tàu rất cổ kính. Giây tầm gửi Việt Nam cũng bị cuốn theo xuống vòng suy liệt, rồi sau, tình cờ, bám vào một cây to khác. Chúng ta hiện giờ đương tiếp xúc thân mật với một nền văn hoá vô cùng phong phú và tế nhị: văn hoá Pháp. Sự thay đổi vừa có lợi vừa có hại: nó cho ta nhận rõ cái lầm đau đớn về trước; nó mở cho ta nhiều viễn ảnh rực rõ mai sau; nhưng, đồng thời, nó lại đe doạ sẽ đem tới cho ta một sự thôn tính rất tai hại về tinh thần.
Vậy, đã trót sống cái đời tầm gửi, ta không nên lại cứ cam tâm sống mãi cái đời tầm gửi.
Nhận ra điều này, tức là nhận ra sự cần kíp phải tự gây cho mình một nền văn hoá, một nền văn hoá Việt Nam. Và, đó tức là một vấn đề sinh tử cho cả một dân tộc gồm hai mươi năm triệu linh hồn.
Nhưng, sự kiến thiết văn hoá, trước hết phải cần đến một nền quốc văn hoàn mỹ, có thể là một thứ văn giáo hoá. Ông cha mình khi xưa đã chỉ chuyên luyện văn Tàu, đã chỉ lấy sự giỏi viết văn Tàu làm cái dấu hiệu của trí thức. Ngày nay, phần nhiều người có học lại chỉ say mê văn Pháp. Quốc văn, trước sau, thành ra vẫn bị rẻ rúng, khinh thường. Kết quả: văn Việt Nam tiến rất chậm, mặc dàu nó vẫn được một số ít, rất ít, lấy sự tiến bộ của nó làm lẽ sống của mình. Sự quái gở này cần phải phá bỏ. Ta cần phải gây ngay một phong trào quốc văn mạnh mẽ và rộng lớn hơn từ trước đến nay.
Để gây phong trào đó, chúng tôi đã nghĩ đến một tờ tạp chí lý tưởng.
Tờ tạp chí này sẽ không phải là cơ quan riêng của văn phái nào; nó sẽ là nơi gặp gỡ của hết thảy mọi trào lưu tư tưởng, và mọi khuynh hướng nghệ thuật, miễn là các trào lưu và các khuynh hướng ấy cùng chung một mục đích: gây dựng một nền văn hoá Việt Nam.
Nó sẽ là cái vườn ươm hạt giống anh tài của chủng tộc, là nơi để bất cứ một cá tính nào cũng có thể phát triển đầy đủ về phương diện tư tưởng cũng như nghệ thuật; nó sẽ là nơi tập trung tất cả mọi sự gắng công để đi tới sự hợp nhất và tiến bộ đền hoàn toàn của ngôn ngữ Việt Nam và, sau hết, để đi tới sự nhận chân cái bản thể nhân loại qua tâm hồn Việt Nam.
Tờ tạp chí lý tưởng ấy, hôm nay chúng tôi cho nó ra đời, tức là tạp chí Tao Đàn này vậy. Tao Đàn gồm ba phần: Nghị luận và khảo cứu; Nghệ thuật; Tạp ký.
Trong phần Nghị luận và khảo cứu, chúng tôi hoan nghênh các bài của tất cả các học giả ba kỳ, các bài viết ra, hoặc để củ xoát lại các tư tưởng cũ của Á Đông, hoặc để giới thiệu và phê bình các học thuyết của Âu Tây, hoặc để bàn về mọi vấn đề quan trọng đến sự tạo lập nền văn hoá Việt Nam.
Trong phần Nghệ thuật, chúng tôi sẽ nhận đăng những tác phẩm về văn nghệ: thi ca, tiểu thuyết, phóng sự, kịch… của các văn sĩ bất cứ thuộc đảng phái nào.
Trong phần Tạp ký, chúng tôi sẽ ghi chép việc xảy ra trong văn học giới, hoặc lấy ý riêng mà gợi nên các vấn đề quan thiết đến văn hoá, ngôn ngữ Việt Nam để chờ sự giải quyết của các học giả, văn gia trong toàn quốc.
Thực ra, Tao Đàn không phải là một sáng kiến. Trước nó, Đông Dương tạo chí, Nam Phong, Hữu Thanh, Đông Thanh, v.v… đều đã làm cái việc khảo cứu và phát huy những tư tưởng của của Á Đông, giới thiệu và phê bình các học thuyết của Âu Tây, tìm cách dung hoà các tư tưởng học thuyết ấy để làm lợi cho tinh thần Việt Nam. Và trong khi làm những công việc ấy, các tạp chí kia đã cổ động, bồi đắp, phổ thông cho quốc văn, nâng quốc văn lên cái địa vị ngày nay.
Tao Đàn ngày nay, chỉ làm tiếp tục những công việc ấy, cho đến hoàn bị.
Nhưng, dầu thế, Tao Đàn vẫn có điểm này nó là cái đặc sắc của Tao Đàn. Nó phân biệt rõ rệt Tao Đàn với các tạo chí trước nó. Là về phương diện tư tưởng cũng như về phương diện nghệ thuật, Tao Đàn sẽ đặc biệt chú trọng vào những công trình sáng tác.
Hiểu biết, dung hoà, thu nhập chưa đủ. Ngày nay chúng ta đã đến cái thời kỳ cần phải sáng tác. Vì có sáng tác mới tỏ ra có hoạt động, có sống. Bất cứ ở đâu và thời đại nào, chỉ những công trình sáng tác mới là những sự phát biểu linh hoạt của tinh thần một dân tộc.
Tinh thần của dân tộc Việt Nam từ trước đến nay, đã bị tê liệt dưới sức đè nén của văn hoá Tàu. Để tránh những áp lực khác có thể tai hại hơn nữa, những tinh thần Việt Nam cần phải được phát huy, được nảy nở ra trong những công trình sáng tác mãnh liệt và rỡ ràng.
Đã trình bày rõ rệt mục đích và ý nguyện của mình. Tao Đàn chỉ còn chờ đợi cái cảm tình nồng nàn và sự cộng tác sốt sắng của hết thảy những người Việt Nam nào mà tương lai tinh thần của chủng tộc đã thành một mối băn khoăn tha thiết trên mọi băn khoăn khác.
TAO ĐÀN.

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

NHÀ VĂN TÔ HOÀI LÀM THƠ



Dưới đây là bài thơ "Tiếng reo" của nhà văn Tô Hoài mà Hoan tìm được trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 189 ra ngày 3 Janv 1938.
Nàng ngừng tay dệt vải,
Mơ màng lắng tai nghe.
Hình như bên cửa sổ,
Văng vẳng tiếng ai reo.

Từ mùa thu năm ngoái,
Chàng ra đi không lại.
Ồn ào tiếng gì đây ?
Ồ lạ! hay là phải...?

Hay là phải chàng về?
Chàng về tiếng quân reo...
Chàng về tiếng ngựa hí...
Chàng về, ngựa quân theo...

Vội vàng ra mở cửa:
Ngoài hiên vẫn vắng teo.
Gió lùa từng cơn mạnh.
Thì ra tiếng lá reo.



© 2012 Blog NXB Tân Dân

Thứ Năm, 31 tháng 3, 2011

TỦ SÁCH NHỮNG TÁC PHẨM HAY

CUỒN LẦM THAN CỦA LAN KHAI


Tủ sách Những tác phẩm hay của nhóm Tân Dân ra mắt lần đầu năm 1938 với cuốn đầu tiên xuất bản là tác phẩm Lầm than của nhà văn Lan Khai. Tủ sách này hai tháng ra một quyển tiểu thuyết thật hay. Giá bán không nhất định.
(Từ cuốn VANG BÓNG MỘT THỜI, loại Những Tác-Phẩm Hay không bán một giá nhất-định như từ trước tới nay, mà sẽ định giá tùy theo số trang nhiều ít. Đại-khái : 160 trang 0$40, 180 trang 0$45, 200 trang 0$50, 225 trang 0$55, 250 trang 0$60.)
Một số tác phẩm rất nổi tiếng mà Tủ sách Những tác phẩm hay đã xuất bản đó là: Lầm than (1938) và Truyện đường rừng (1940) của Lan Khai, Cô gái làng Sơn HạPhấn hương của Ngọc Giao, Tà áo lụa của Thanh Châu, Loạn kiêu binhChúa Trịnh Khải của Nguyễn Triệu Luật, Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh do Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu dịch, tập phiếm luận Trước đèn của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, Truyện hai người của Vũ Bằng, Bảy HựuCuộc sống của Nguyên Hồng, Danh nhân Việt Nam qua các triều đại của Phan Trần Chúc...
Các nhà văn viết cho tủ sách Những tác phẩm hay gồm: Nguyễn Tuân, Lê Văn Trương, Phùng Tất Đắc, Vũ  Bằng, Nguyễn Triệu Luật...
                                                            © 2012 Blog NXB Tân Dân                                                                                       

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

TRUYỀN BÁ

TRUYỀN BÁ


Theo Từ  điển thư tịch báo chí Việt Nam của tác giả Nguyễn Thành (NXB Văn hóa thông tin 2001) thì báo Truyền bá là tập báo của tuổi trẻ, xuất bản mỗi tháng 2 kì vào ngày 10 và 25.
Chủ nhiệm: Vũ Đình Long
Tòa soạn: 93 phố Hàng Bông
In tại nhà in Tân Dân, khổ 185x115mm
Báo Truyền Bá ban đầu ra ngày 10 và 25, sau ra ngày thứ năm. Mỗi số 26 trang, đăng hết một truyện dài, một truyện ngắn và nhiều bài có ích cho trẻ em.
Hiện ở Thư viện quốc gia Việt Nam chỉ còn lưu giữ được một số Truyền Bá duy nhất. Chúng tôi nghiên cứu ấn phẩm này dựa trên những tài liệu và hình ảnh do nhà sưu tầm sách Nguyễn Tiến Dũng ở thành phố Hồ Chí Minh cung cấp.
Đây là tớ báo dành cho nhi đồng với khuynh hướng giáo dục đạo đức và lối sống rất rõ. Chúng tôi xin trích lời mở đầu trên Truyền Bá số 1 như dưới đây (những chỗ in đậm là do chúng tôi nhấn mạnh – V.Đ.H):
“Truyền bá” là báo của tuổi trẻ, tuổi sung sướng.
Những truyện và những bài báo của Truyền bá đều quy vào một mục đích này: Giáo dục.
Giáo dục, nhưng giáo dục một cách vui vẻ, chứ không khắc khổ, khô khan. Các bạn trẻ sẽ chơi mà học.
Những nhà báo và những nhà văn hằng lưu tâm đến vấn đề giáo dục nhi đồng sẽ cộng sự với chúng tôi. Chúng tôi muốn làm một công việc có ích cho cái thế hệ đang chớm nở.
Ở nước nào cũng vậy người ta đều để hết cả hy vọng vào những “người tương lai” đó. Óc họ hãy còn trong trắng, những điều họ thấy và họ đọc bây giờ sẽ ảnh hưởng mãi mãi đến tâm hồn họ. Có người đã già rồi vẫn chưa quên những cảnh, những tranh, những truyện đã in vào tâm hồn mình từ lúc thiếu thời.
Bởi vậy chúng tôi rất thận trọng trong công việc làm báo này. Trẻ em sẽ tin cậy được Truyền bá như tin cậy một người anh cả. Mà những người đã quá tuổi trẻ rồi sẽ thấy ở đây hình bóng cả một thời kỳ mình đã trải qua. Họ sẽ thấy trẻ lại. Sống lại những giây phút cái thời kì thơ ấu, người ta sẽ nhận thấy cái tâm hồn trẻ em rõ rệt hơn; do đó sẽ “hiểu” trẻ em hơn và gây cho trẻ em một giáo dục hoàn toàn hơn.
Những gia đình lễ giáo, tha thiết với trẻ em, sẽ là bạn của Truyền bá vậy.
Truyền bá ngoài phần tiểu thuyết ra, còn có nhiều mục vui, nhiều bài bổ ích trực tiếp đến sự học và sự biết. Mỗi kỳ sẽ có một truyện cổ tích, hoặc về du lịch, hoặc về thám hiểm, hoặc về danh nhân. Các bạn lại còn có thể tìm thấy ở đây nhiều trò chơi giải trí và nhiều câu đố nữa.
Phần tiểu thuyết nhiều trang hơn, để các trẻ em thấy vui nhiều mà ham đọc. Nhưng các mục khác in chữ nhỏ, cỡ rộng, một trang bằng hai ba trang kia cũng chiếm một phần khá quan trọng trong báo này.
Những giờ nhàn rỗi, bực làm cha mẹ nghe con đọc truyện Truyền bá và giở những trò chơi, câu đố ra thử con cái trong nhà vui vẻ, còn có gì ích lợi và sung sướng cho bằng.
TRUYỀN BÁ
Với tư cách là một giáo học, trên Truyền Bá số 1 Vũ Đình Long đã nêu ra mục đích và tôn chỉ của tờ báo này như sau:
BỨC THƯ NGỎ
Cùng các ông giáo, bà giáo, các ông đốc, bà đốc các trường công, tư ở khắp cõi Đông Dương,
Trước khi phát hành báo Truyền bá, một tập báo của tuổi trẻ, tôi thành tâm gửi một số đầu kính tặng tất cả những bạn đồng nghiệp cũ của tôi ở khắp cõi Đông Dương -  tôi muốn nói tất cả các ông giáo, bà báo và tất cả các ông đốc, bà đốc trường công và trường tư (1).
Báo Truyền bá đăng những tiểu thuyết giáo dục, những truyện danh nhân, những truyện du lịch, thám hiểm, phát mình, những thường thức bạn trẻ cần biết bằng những câu hỏi và trả lời (Ở đâu? Tại sao? Ai? Thế nào?), những trò chơi giải trí, v.v...
Một tập báo như thế thiết tưởng rất có ích cho trẻ em các học đường và đáng là người bạn tốt của các nam nữ học sinh ngoài giờ học tập.
Những sách  báo như thế thiết tưởng rất có ích cho trẻ em các học đường và đáng là người bạn tốt của các  nam nữ học sinh ngoài giờ học tập.
Những sách và báo bằng quốc văn viết riêng cho tuổi trẻ còn hiếm lắm, các trò em ham đọc, gặp gì đọc nấy, thậm chí đọc cả những báo và tiểu thuyết viết cho người lớn, rất là có hại.
Là một giáo viên hưu trí, tôi xuất bản tập báo nhi đồng này có ý muốn tiếp tục việc giáo dục đàn trẻ am mà tôi rất yêu mến và tôi đã được hiểu biết trong hai mươi năm dạy học.
Tôi gởi tập báo này đến kính tặng các bạn để cùng các bạn nhắc nhở cái tình đồng nghiệp mà tôi không bao giờ có thể nhãng quên và để xin các bạn chỉ giáo cho điều hơn lẽ thiệt, cho tập báo của tuổi trẻ này có ngày được hoàn toàn.
Các bạn nên coi báo Truyền bá này là cái công cuộc chung của chúng ta, công cuộc bổ túc cho học đường ở ngoài học đường, như vậy các bạn sẽ thấy vui vẻ hợp tác với chúng tôi về mọi phương diện.
VŨ ĐÌNH LONG
Giáo học hưu trí
Chủ nhiệm nhà in Tân Dân, báo Truyền Bá, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San.”
Để cổ động hơn nữa cho sự liên hệ mật thiết giữa nhà trường, gia đình và Truyền Bá, nhà Tân Dân có những cách làm rất hiện đại là treo những giải thưởng cho học sinh và tham gia vào các hoạt động khuyến học tại các trường công, tư thục:
“Những giải thưởng của Truyền Bá
Muốn có liên lạc mật thiết với các học đường, chúng tôi sẽ thường thường đặt ra những giải thưởng cho tất cả các trường công, trường tư trong nước.
Giải thưởng thứ nhất tặng người học trò ngoan nhất trường. Thể lệ sẽ đăng ở số sau.
Truyền Bá dự vào các cuộc phát thưởng
Những trường công và trường tư sẵn sàng hợp tác với Truyền Bá, Truyền Bá sẽ tặng nhiều phần thưởng vào dịp những trường ấy tổ chắc phát thưởng cuối năm học.”
 Đội ngũ các cây bút chủ lực viết cho Truyền Bá gồm: Thâm Tâm, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Vũ Bằng, Lê Văn Trương, Ngọc Giao, Thanh Châu...

© 2012 Blog NXB Tân Dân

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

NHÀ VĂN, NHÀ PHONG TỤC HỌC TOAN ÁNH

TOAN ÁNH 


Cụ Toan Ánh đã già lắm rồi, cụ hiện cư ngụ tại nhà con gái ở đường Nguyễn Kiệm Phú Nhuận, xưa kia là đường Võ Di Nguy, lối lên sân gôn, Tổng y viện Cộng Hoà cũ.
Để giữ gìn sức khoẻ, mỗi sáng cụ đi bộ một vòng quanh công viên cho giãn gân giãn cốt. Cụ đi từ 6, 7 giờ đến 9 giờ mới về nhà, nghỉ ngơi hoặc làm việc. Trước kia cụ đi một mình, nhưng nay con cháu cụ phải đi kèm coi chừng, cụ hiện bị bệnh tiểu đường, do giữ gìn và kiêng khem kỹ nên cụ vẫn sống vui, sống khoẻ.Ngoài việc thèm hút thuốc lá, nhưng cũng phải giới hạn. Cụ không đam mê một thú vui nào khác ngoài sách vở và công việc sửa chữa lại tác phẩm của mình, biết bao nhiêu bản thảo xếp chồng chất cạnh giường cụ làm cho người ta phải khâm phục. Cụ Toan Ánh làm một công việc kiên trì của một nhà văn, một nhà khảo cứu về phong tục Việt Nam, suốt bẩy chục năm cầm bút.
Nhìn vào danh mục mới thấy về sự làm việc kinh hồn của cụ, một sự nghiệp lớn lao về văn hóa mà ít nhà văn nào có thể làm được, có lẻ vì đam mê, sự kiên trì và tuổi đời cao chăng, bây giờ cụ ở tuổi trên 90 nhưng vẫn còn minh mẫn, dù tai nghe không rõ lắm, một chút nhớ nhớ quên quên: 124 tác phẩm.
Nói tác phẩm là một quyển sách chưa đúng hẳn, vì một tác phẩm của cụ có thể là một bộ sách gồm nhiều quyển sách gộp lại mang cùng tên, như tác phẩm Nếp Cũ, gồm cả chục cuốn sách, mỗi cuốn dầy từ 300 trang trở lên. Và còn nhiều bộ như thế, trong một đời cầm bút của cụ.
Được cụ tiếp chuyện cả là một vinh hạnh, với tôi thì cụ là bậc trưởng thượng, bậc đàn anh tôi dành tất cả sự trân trọng và quý mến.
Tôi hỏi cụ về những vị cùng thời với cụ, cụ thở dài:
-Chết hết cả rồi!
Cụ còn nói:
-Người trẻ nhất cũng đã chết rồi.
Ngồi nói chuyện với cụ Toan Ánh, tôi phải thú thật với cụ rằng tác phẩm của cụ nhiều quá, tôi chưa đọc hết, nhưng cũng có đọc những cuốn cụ viết về phong tục, tôi ngưỡng mộ lắm, vì tôi thấy lại quê hương tôi ở miền Bắc, những hội hè đình đám, mà khi tôi có chút hiểu biết thì còn là một trẻ nhỏ, những vùng đất tôi từng đi qua thời tản cư, chiến tranh đánh đuổi giặc Pháp của toàn dân. Này là Đại Từ, Thái Nguyên, Phú Thọ, Núi Tam Đảo, Chapa nơi có chợ tình họp thường xuyên theo phong tục của các sắc dân miền cao, tôi đã đọc và hiểu thêm về những nơi đó. Tôi từng nghe hát Quan Họ biết Bắc Ninh là quê hương của quan họ, nhưng làm sao biết được rõ ràng, nếu không đọc và tham khảo sách của cụ, rồi những hội hè đình đám chốn quê hương Bắc Bộ.
Cụ Toan Ánh cho biết:
Không thuần ở miền quê Bắc Bộ mà khắp Việt Nam, cả đời tôi làm công chức nên đi nhiều nơi, tìm hiểu cặn kẽ từng vùng từng nơi, và nhờ nhiều vị có uy tín ở địa phương giúp cho những tài liệu chính xác, đáng tin cậy, để tham khảo thêm về phong tục ở từng vùng.
Tôi thú thật rằng sau năm 1954 tôi mới đọc những tác phẩm của cụ, vì khi đó tôi mới lớn và tập tành đam mê chuyện văn chương. Còn cụ cầm bút từ khi tôi chưa ra đời, tức là năm 1934, cụ còn là học sinh ban thành chung đã có bài đăng trên các báo. Theo như tài liệu của gia đình cụ Toan Ánh, tôi thu thập một ít tiểu sử của cụ:
Nhà văn Toan Ánh tên thật là Nguyễn Văn Toán, sinh năm 1915 tại Thị Cầu, Bắc Ninh, quê hương quan họ, thuộc gia đình trung lưu Hán học, học Hán văn với mẹ và thầy đồ Chu Phượng Nghi trước khi qua học chương trình Pháp Việt phổ thông thời đó. Ngày bé thường đường bố công kênh đi xem các lễ hội quê nên chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền đạo đức, lễ giáo Đông phương, yêu sâu xa các lễ hội, các thuần phong mỹ tục và văn hóa nghệ thuật nước nhà, đồng thời tiếp thu được tinh thần phân tích khoa học và nét trữ tình của nền văn học Tây phương.
Vào làng văn làng bút, Toan Ánh đã làm thơ, viết kịch, viết tiểu thuyết và nhất là trở thành nhà Phong-tục-học, viết biên khảo về nếp sống cũ, về thuần phong mỹ tục của Việt Nam (như bộ Nếp cũ 11 quyển, Bó hoa Bắc Việt, Tinh thần trọng nghĩa Đông phương, Tiết tháo một thời, Phong lưu đồng ruộng, Văn hóa Việt Nam những nét đại cương, Hương nước hồn quê. Về các sắc dân Việt có Người Việt Đất Việt, Miền Bắc khai nguyên, cao nguyên miền Thượng.
Toan Ánh bắt đầu viết văn làm thơ từ năm 1934 như đã nói ở trên, khi còn là học sinh ban Thành chung đã có bài đăng trên các báo.
Trước năm 1954: Trung Bắc Chủ Nhật, Tiểu thuyết thuần san, Đàn Bà, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Bắc Ninh tuần báo, Tạp chí Tao Đàn, Tạp chí Bạn Đường (Thanh Hóa), Tạp chí Tin Lào (Vạn Tượng), Phổ thông bán nguyệt san, Jeunesse Studieuse v.v...
Sau năm 1954: Chỉ Đạo, Bách Khoa, Hải Triều Âm, Lành Mạnh, Chọn Lọc, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Cách Mạng Quốc Gia, v.v...
Sau năm 1975: Tập san Nghiên cứu dân tộc học, Xuân dân tộc miền núi, Xưa và Nay, Danh nhân trẻ v.v...
Trước năm 1975 Toan Ánh là hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế, phó chủ tịch. Hội viên Hội Thư Viện VN, hội viên hội Văn hóa Giáo dục, hội viên (liên lạc viên) Trung Tâm Văn Hóa Thái Bình Dương, giáo sư thỉnh giảng tại nhiều trường đại học và cao đẳng như đại học Vạn Hạnh, đại học Văn Khoa Huế, đại học Cần Thơ, đại học Đà Lạt, Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn, CĐQP Vĩnh Long về phong tục học, Văn Hóa Việt Nam, thẩm mỹ học, xã hội học v.v...
Do tính đa dạng của các công việc (thuế vụ, hành chánh, tòa án, thư viện, tài chánh, thể dục thể thao, xã hội, dậy học), nhà văn Toan Ánh đi làm qua các thời kỳ ở rất nhiều nơi, nên đã có được một sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Nhưng cụ vẫn nhũn nhặn khiêm nhường, nói “không ngờ vì sự đam mê mà có được”. Nhưng ai dám phủ nhận tài năng và sức làm việc của cụ trong việc làm vĩ đại ấy.
Trong câu chuyện vui, cụ nói có người còn dám đội tên cụ, nghĩa là xưng mình là nhà văn Toan Ánh, lại khoe với chính con trai của cụ mới là điều trớ trêu. Cụ không nói phản ứng của con trai cụ và cụ thế nào, ra sao với kẻ láo lếu ấy, đó cũng là tính khiêm nhường của cụ.
Sau 30.4.75, cụ sáng tác ít, làm công việc sửa chữa lại bản thảo, phục hồi những bản thảo bị mất bị hư trang, nhiều tác phẩm của cụ chưa in, nên bây giờ cụ cho in lại hoặc tái bản. Cụ hơi bực mình vì việc biên tập ở đây, nhiều khi làm lạc cả ý của cụ, có nhà xuất bản còn thay đổi cả tên tác phẩm của cụ, như quyển Bó hoa xứ Bắc bị đổi là Gái đẹp xứ Bắc! Theo cụ thì đó là điều tục tĩu trong sự đặt lại tên tác phẩm của cụ, và còn lại nhiều sự biên tập khác làm cụ bực mình, không thể chấp nhận được. Chị con gái lớn của cụ là người đại diện của cụ, cũng đồng ý điều đó, vì thế bây giờ ai in lại tác phẩm của cụ không được sửa đổi bất cứ một câu một chữ nào, dù là một dấu chấm, dấu phẩy, có hợp đồng đàng hoàng.
Sách của cụ tràn lan khắp mọi nơi, kể cả trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Tôi hỏi cụ:
-Thưa cụ, sách của cụ có in ở nước ngoài vậy nhà xuất bản nào ấn hành?
-Nhà xuất bản Xuân Thu.
-Cụ có liên lạc với nhà xuất bản ấy không?
Cụ Toan Ánh hừ một tiếng:
-Có, tôi có thấy họ in sách tôi, tôi nghĩ đường xa cách trở nên viết thư liên lạc với họ, tôi có nhận được thư trả lời của họ, một bức thư trả lời lời lẽ không được nhã nhặn cho lắm.
Cụ có thể cho biết rõ hơn?
Họ nói họ in sách tôi là muốn “nâng đỡ” tôi, muốn độc giả không quên tôi, một việc làm phúc đức cho tôi, đáng lẽ ra tôi phải mang ơn họ mới đúng.
Quả thật đó là một chuyện không nên không phải đối với nhà văn có hơn bảy mươi năm hành nghề viết văn làm báo. Tôi hiểu những hạng “đầu nậu” ngành xuất bản như thế có ở nhiều nơi, ở Việt Nam này cũng không thiếu gì loại đầu nậu ấy. Những nhà văn còn lại trong nước bị in sách lậu trả lời bằng sự im lặng. Chẳng phải sợ gì họ mà không muốn nói đến thì đúng hơn.
Tác phẩm của cụ để lại cho đời là tác phẩm hữu ích, để thế hệ mai sau không quên tổ tiên, nguồn gốc. Cụ chỉ muốn đưa lên cái đẹp của Con người, của Quê hương Đất nước Việt Nam, để cho người đọc và hiểu làng quê Việt Nam hình thành như thế nào.
Với một gia tài văn chương văn hóa đồ sộ của cụ Toan Ánh, nhiều nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu cũng đã viết đến, phân tích, luận bàn không thiếu gì những cái hay cái đẹp trong văn chương và tài liệu cụ thu thập được trên khắp mọi miền đất nước, đó là những lời khen, những thái độ kính phục và cảm phục dành cho một nhà văn lão thành, dầy công trong sự nghiệp của mình, nhưng cụ thì vẫn khiêm nhượng, cái khiêm nhượng sẵn có trong lòng một kẻ sĩ có cả tài lẫn đức.
Riêng tôi, kẻ viết bài này, sinh sau đẻ muộn cũng chung một cảm phục như thế, nên không nói thêm điều gì, mà người ta đã ca tụng, đọc sách của nhà văn Toan Ánh, người ta còn nhìn thấy sự lột tả hết cái chân, cái thật khi nói về làng quê với một chút bỡn cợt nhưng đầy duyên dáng, trữ tình, điển hình là chính ngôi làng nơi mà cụ đã được sinh ra và lớn lên. Tôi xin trích ra một đoạn:
“Làng tôi không thay đổi gì, từ hình thể đến dân làng. Có khác chăng là những thằng bạn thả diều, đánh bi của tôi từ thuở nhỏ đã lớn, những cái đĩ thằng cu, xưa kia đầu chốc, cởi truồng, đã thay hình đổi dạng thành những cô gái làng xinh đẹp đỏm dáng, thành những cậu trai làng khỏe mạnh cần cù thương yêu miếng đất mảnh vườn, xoắn xuýt với thửa ruộng mẫu ao. Còn những cô gái làng xưa, nay đã có chồng, có cô lại còn dắt díu con bồng con mang.”
Và chẳng có gì lọt qua được cặp mắt sắc bén hóm hỉnh của cụ: “Ngắm lại những cô gái xưa tôi thầm yêu trộm nhớ đã là những thím nọ, mợ kia với chiếc áo hở lường, với đôi vú thõng dưa gang.” Còn nói đến trai làng với một chút hài hước: “Và những thằng bạn thuở nhỏ của tôi, thường cùng tôi vật nhau lúc chăn trâu, thường cùng tôi ê a quyển Hán tự Tân thư, cũng là những anh chồng ngoan ngoãn chăm lo vườn tược ruộng nương, có anh cũng có hai ba con! Anh nào anh nấy bộ mặt nghiêm trang đứng đắn, đi ra khỏi ngõ là áo dài khăn lượt trông thật đạo mạo.”
Và những người lớn thì đã bắt đầu già: “Có người tóc điểm hoa râm, có người mắt đã bắt đầu đeo kính. Còn các cụ già, nhiều cụ đã không còn nữa! Các cụ đã ăn xôi nói theo danh từ hài hước quê mùa! Hỏi thăm các cụ, các người thản nhiên trả lời: Các cụ đi với ông ‘sáu tấm’.”
Còn những cô gái làng mới lớn, tôi thấy trong một đoán ngắn:
“Nếu ai đi qua cổng làng tôi gặp lúc chiếc cổng tre giương lên, một cô gái chít khăn mỏ qua, mặc áo cánh nâu non, yếm mầu mỡ gà với khuôn mặt trái xoan, với hai con mắt long lanh sáng, điểm thêm nụ cười chúm chím như hoa hàm tiếu, tuy vậy cũng để lộ mấy chiếc răng cửa đen nhức như hạt huyền và đều đặn như hạt lựu giữa đôi môi tươi thắm, ắt phải có cảm tượng như được ngắm một bức tranh linh động giữa thiên nhiên. Cô gái làng đang đứng bên cột tre, một tay giơ cao vịn vào cành tre. Cô đứng làm gì?
“Ai có biết nhưng nhìn cô thấy đáng yêu với vẻ ngây thơ. Có khi cô lại cất tiếng hát vài câu ca dao, tiếng vang êm ái nghe thật là quyến rũ:

Chẳng tham ruộng cả ao sâu
Tham gì anh tú tốt râu mà hiền,
Chẳng tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút cái nghiêng anh đồ.

Hỡi ai là anh tú, hỏi ai là anh đồ, nghe cô ca có động lòng chăng tá!
Cô gái quê thật thà là bông hoa của đồng ruộng! Cô đã làm cho cho bao chàng trai say mê, và chính cô cũng đã bao lần tơ lòng rung động trước nỗi niềm tha thiết của những trai làng!”
Nét văn hóa của làng quê Việt Nam nổi bật những những điểm đó, ở bút pháp vừa và vặn vừa sắc bén của nhà văn nhà khảo cứu Toan Ánh khiến người đọc bị quyến rũ, nao lên, say sưa đọc mãi cho đến trang cuối của cuốn sách dày hơn 300 trang mà vẫn còn muốn đọc nữa.
Khi đọc sách của nhà văn Toan Ánh, tôi thấy mình yêu quê hương đất nước hơn, không phải riêng tôi mà rất nhiều người đồng điệu đều có chung một cảm xúc ấy.
Hỏi về đời sống của cụ, đời sống của cụ sau 30.4.75, cu vẫn để cho nhà nước xuất bản sách của cụ. Cụ cho rằng sách của cụ cần được phổ biến, không phân biệt mốc thời gian, không chứng kiến đỏ đen hoặc phục vụ cho tầng lớp nào đó, mà cho cả thế hệ mai sau. Để cho con cháu chúng ta biết được phong tục tập quán của dân tộc.
Ngày “cải tạo văn hóa” năm 1975, cụ Toan Ánh là một trong rất ít người làm văn hóa không phải đi học tập, nhưng phòng PC16 cũng không quên cụ, mời cụ lên nói chuyện chứ không phải là lệnh bắt giam. Đối với cụ Toan Ánh là họ đã “chiêu hiền đãi sĩ” lắm rồi. Những tác phẩm của cụ bị đốt đâu không biết, chứ cụ không bị họ vào nhà lục lọi khiêng ra trước cửa đốt. Họ chỉ đạt giấy mời cụ lên, người chấp pháp lấy cung cụ, hình như cũng là nhà văn hóa không biết bao lớn, nói chuyện với cụ bằng tư thế của kẻ chiến thắng, gọi cụ bằng “anh”. Cụ Toan Ánh cho anh ta biết sự phân biệt về tuổi tác, không thể gọi cụ bằng anh được, cụ không chấp nhận. Cốt cách cụ là nhà nho làm văn hóa, ngay cả miền Bắc XHCN cũng còn dùng sách của cụ để dạy học, vậy thì nói chuyện với cụ phải có cái lễ nghĩa của một con người. Người cán bộ chiến thắng ấy bèn đổi giọng nói chuyện với cụ lễ phép hơn suốt câu chuyện.
Trong suốt 30 năm XHCN cầm quyền ở Việt Nam, cụ Toan Ánh sáng tác ít, mà sửa chữa và cho in lại những tác phẩm của cụ thì nhiều, một chuyện làm ăn sòng phẳng giữa nhà văn và nhà xuất bản của nhà nước, khai thác một số tác phẩm nào đó của cụ có hạn định. Đời sống của cụ và đám con cháu bình bình chứ không gian truân, lao đao như nhiều người làm văn hóa khác, con cái có công việc làm. Mừng cho cụ cho gia đình cụ.
Rằm tháng Bẩy, người Xá Tội Vong Nhân, chùa Vĩnh Nghiêm tổ chức một buổi lễ cầu siêu cho hai triệu người dân chết đói ở Bắc Việt, hồi 60 năm trước, đáng lẽ chuyện này phải làm lâu rồi, nhiều người cũng không đồng ý việc chọn ngày Rằm tháng Bẩy là theo phong tục dân gian là ngày cúng cho các cô hồn, các đảng. Hai triệu người Việt bị chết oan ức vì quốc nạn do sự xâm lăng và chính sách tàn bạo của quân phiệt Nhật, họ không nằm trong danh sách Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, cái chết của họ phải được tưởng nhớ một cách trân trọng như Nước Nhật hàng năm họ vẫn tổ chức đại lễ tưởng niệm những người dân vô tội đã bị thiệt mạng vì hai quả bom nguyên tử.
Tôi kể cho cụ nghe về chuyện chết đói mà tôi đã chứng kiến lúc còn bé ở Ô Cầu Giấy, có kẻ vì đói làm liều ăn quỵt tiền cơm, họ bị chủ hàng xua người làm công đánh đấm một cách dã man đến độ ói cả chỗ cơm vừa ăn quỵt nhưng chưa ghê sợ bằng khi nhìn thấy cảnh số cơm vừa ói ấy được một số người khác cũng đánh đấm, xô đẩy nhau giành giật để ăn, thật là một cảnh hỗn loạn chưa từng thấy. Tôi hỏi cụ, với tư cách của một người đã sống qua, chứng kiến những chuyện ấy cụ còn nhớ gì không, cụ trở nên trầm ngâm, nhắc lại khung cảnh thê thảm ngày ấy:
Xác người chết đói chở xe bò ra những cửa ô đem đổ đi, đổ đi chứ không phải chôn cất, người ta đói quá vồ luôn những bãi mửa của chó mửa ra để ăn, tôi nói là chó chứ không phải người như anh thấy ở Ô Cầu Giấy. Chưa một năm nào dân tộc ta lại thê thảm như vậy.
Trong trí nhớ của tôi, nhớ ra một chuyện hồi 45 năm trước. Tôi còn nhớ người ta kháo nhau chuyện một người đàn bà buôn cám trộn mạt cưa, bán cám cho ngựa của một doanh trại Nhật. Và sau đó họ mổ bụng con ngựa để tìm hiểu nguyên nhân vì ăn cám gạo trộn mạt cưa mà chết, quân Nhật đút luôn kẻ buôn gian bán lận ấy vào bụng con vật, khâu lại rồi mang đi chôn sống. Một hành động quá sức tàn nhẫn của người Nhật với dân bị trị, không phải để trừng phạt cho người ta sợ, mà việc làm mất nhân tính, nên quân đội Nhật hoàng mới mang tiếng tai khắp một vùng Đông Nam Á này. Tự họ đánh đổ thuyết Đại Đông Á mà họ đề ra.
Cụ Toan Ánh nói không phải là lời đồn đãi, đây là câu chuyện có thật. Việt Nam những năm đó phải chịu cái ách từ mọi phía đổ lên đầu dân tộc. Giọng cụ thật xúc động, nỗi buồn trùng xuống trên mái đầu bạc, tôi cũng buồn lây.
Buổi trưa rồi đấy. Tôi phải ra về để cụ nghỉ ngơi, nếu không về cụ sẽ nói chuyện hoài, nói không dứt được. Phải chăng người già ai cũng thế, làm chưa hết thì phải nói cho bằng hết, những gì mà mình cho là còn dở dang.
Hình như có một cơn mưa. Mây đen từ hướng đông chuyển vào thành phố.

Sài gòn, tháng 10.2005
Nguyễn Thụy Long

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

LAN KHAI VÀ TẠP CHÍ TAO ĐÀN 1939


NGUYỄN NGỌC THIỆN
(Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Lan Khai (1906-2006)

Đầu năm 1939, Vũ Đình Long, chủ Nhà xuất bản Tân Dân có sáng kiến xin giấy phép xuất bản ấn hành tạp chí TAO ĐÀN. Đây là tạp chí chuyên ngành về văn học đầu tiên trong làng báo ở ta trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.


Trong số đầu tiên ra mắt ngày 1.3.1939, Bộ biên tập tạp chí đã trình bày lý tưởng và đặc sắc của tạp chí này là “về phương diện tư tưởng cũng như về phương diện nghệ thuật, Tao Đàn sẽ đặc biệt chú trọng vào những công trình sáng tác” vì chỉ ở đó mới phát huy được một cách mạnh mẽ tinh thần dân tộc Việt Nam. Một nền văn hoá Việt cần được tạo dựng bắt đầu từ việc “gây ngay một phong trào quốc văn mạnh mẽ và rộng lớn từ trước đến nay”.

Tạp chí chủ trương tránh biệt phái nhân danh cơ quan riêng của một văn phái, mà cố gắng trở thành một diễn đàn mở rộng, có khả năng tập hợp và hội tụ các lực lượng tuy chính kiến có thể khác nhau, nhưng có chung một lập trường giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, không để rơi vào tình trạng mất gốc, tầm gửi vào các nền văn hoá ngoại lai.
“Nó sẽ là nơi gặp gỡ của hết thảy mọi trào lưu tư tưởng và mọi khuynh hướng nghệ thuật, miễn là các trào lưu và khuynh hướng ấy cùng chung một mục đích: gây dựng một nền văn hoá Việt .
Nó sẽ là một cái vườn ươm hạt giống anh tài của chủng tộc, là nơi để bất cứ một cá tính nào cũng có thể phát triển đầy đủ về phương diện tư tưởng cũng như nghệ thuật; nó sẽ tập trung tất cả mọi sự gắng công để đi tới sự hợp nhất và tiến bộ đến hoàn toàn của ngôn ngữ Việt Nam và sau hết là đi tới sự nhận chân cái bản thể nhân loại qua tâm hồn Việt Nam” (Lời nói đầu).

Vũ Đình Long làm Chủ nhiệm tạp chí, đảm bảo tư cách pháp nhân của ấn phẩm, còn về nội dung bài vở do Lan Khai đặc trách. Ngay từ số đầu tiên, Lan Khai được giao trọng trách Tổng thư ký Bộ biên tập và Quản lý.
Cho đến ngày tự đình bản vào tháng 12/1939 sau khi ra số đặc biệt về Vũ Trọng Phụng, trong 10 tháng hoạt động. Tao Đàn ra đều kỳ được 13 số (từ tháng 3 đến tháng 7-2kỳ/1 tháng; từ tháng 8 đến tháng 10-1tháng/1kỳ) và 2 số đặc biệt (về Tản Đà - tháng 7; về Vũ Trọng Phụng - tháng 12/1939), với tổng cộng 1.374 trang in khổ 14,5 x 20,5 cm.
Trong số 3 nhà văn lần lượt đảm nhiệm cương vị trong Toà soạn mà ngày nay gọi là Tổng biên tập, thì Lan Khai là người đầu tiên đứng vị trí ấy; ông bỏ nhiều công sức vun đắp xây dựng tạp chí đi đúng theo lộ trình và mục đích đã xác định. Ông làm Tổng thư ký Bộ biên tập kiêm Quản lý từ số 1 đến số 10. Còn 3 số cuối do Nguyễn Triệu Luật đảm nhiệm, 2 số đặc biệt do Lưu Trọng Lư tập hợp bài vở.
Ở tuổi 33 năng động, bút lực mạnh mẽ, sung mãn, Lan Khai đã nỗ lực thu hút bài vở của cộng tác viên và góp bài của mình theo sự phân bố về phần, mục với số trang ấn định.
Trong 3 phần chính yếu của Tạp chí thì trọng tâm là các phần Nghị luận và  khảo cứu; Nghệ thuật.

Về phần Nghị luận, khảo cứu, tạp chí đăng tải các bài tiểu luận khai thác, giới thiệu tinh hoa văn hoá dân tộc qua văn học dân gian người Kinh và dân tộc thiểu số (các bài của Phan Khôi, Lâm Tuyền Khách - bút danh khác của Lan Khai); về văn học cổ điển viết bằng chữ Hán và chữ Nôm (do Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Trọng Thuật, Ngô Tất Tố, Phú Hương...); về văn chương hiện đại (Trương Tửu, Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Trúc Đường). Loạt bài của Từ Ngọc, Nguyễn Triệu Luật, Tảo Trang, Kinh Dinh bàn về ngôn ngữ dân tộc qua việc điển chế văn tự, cải cách chữ quốc ngữ, dịch văn học là những bài viết công phu. Mảng chân dung văn học của các nhà thơ cổ điển, tác giả văn học hiện đại có những bài viết sinh động về Nguyễn Công Trứ, Hội Tao Đàn đời Lê. Đặc biệt với 2 số Tao Đàn tập trung các bài viết về Tản Đà (số đặc biệt tháng 7/1939) và Vũ Trọng Phụng (số đặc biệt, tháng 12/1939), liền sau khi các nhà thơ, nhà văn lớn nói trên vừa qua đời, Tạp chí Tao Đàn có thể xem như đã mở đầu sáng kiến làm số chuyên đề về chân dung tác giả văn học để tưởng niệm, kịp thời ghi lại tình cảm sâu sắc, nóng hổi và sự đánh giá trân trọng của người đương thời, của đồng nghiệp đối với những văn nghệ sĩ đã có công đóng góp lớn cho sự phát triển của văn học dân tộc. Rất nhiều bài trong 2 số tạp chí đặc biệt nói trên đã trở thành những giá trị kiểu mẫu của thể loại chân dung văn học, hồi ức, phê bình văn học, giúp ích cho việc tìm hiểu con người và sự nghiệp của các nhà văn đàn anh, bậc thầy của văn chương Việt Nam hiện đại. Trong đó, Lan Khai góp 2 bài đặc sắc: Phác hoạ hình dung và tâm tính thi sĩ Tản Đà; Con người Vũ Trọng Phụng.
Tuy còn ít ỏi, nhưng các bài viết về nước ngoài (triết học Bergson, Khổng Tử, thơ Đỗ Phủ, cổ học Trung Hoa của Lê Chí Thiệp, Phan Khôi, Hoài Thanh, Nguyễn Trọng Thuật), hoặc dịch truyện, thơ nước ngoài (do Mặc Lan, Đông Hồ thực hiện) đã thể hiện một cách xem xét bình tĩnh, khách quan, tiếp thu hoặc đối thoại từ chỗ đứng và thực tế đời sống dân tộc, không nhắm mắt vọng ngoại hoặc nóng nảy dị ứng, lố bịch.

Đáng chú ý là từ số 2, tạp chí Tao Đàn đã chủ động tổ chức cuộc trao đổi ý kiến xoay quanh chủ đề “Gây dựng nền văn hoá dân tộc Việt Nam như thế nào”, lôi cuốn được các cây bút của 2 phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh” tham gia thảo luận sôi nổi. Có thể xem đây là hiệp thứ ba của cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “Nghệ thuật vị nhân sinh”, do Hải Triều và Hoài Thanh là những người đứng đầu của mỗi phái. Sau khi đăng lại bài viết của Bùi Công Trừng thuộc phải “Nghệ thuật vị nhân sinh”. nhan đề Tán thành sự gây dựng nền văn hoá Việt Nam (đã đăng trên bài Đông Phươngtrước đó), tạp chí Tao Đàn liên tục cho đăng các bài trao đổi ý kiến nhiệt huyết tâm đắc của Hải Triều (1), Bùi Công Trường (1), Tô Vệ (1), Hoài Thanh (4), Lưu Trọng Lư (5), Lê Quang Lộc (1)... Một mình Lan Khai, trên lập trường “Nghệ thuật vị nghệ thuật” đã góp 7 bài vào cuộc tranh luận... Cũng cần nói thêm rằng, với sự sắp xếp bài vở khéo léo của Lan Khai, mà một số đoạn thích hợp với chủ đề thảo luận, rút từ sách Văn chương và hành động của Hoài Thanh - Lưu Trọng Lư - Lê Tràng Kiều (Phương Đông xuất bản tại Hà Nội năm 1936, chưa kịp phát hành thì đã bị chính quyền thực dân thu hồi) lại được in thành những bài lẻ, giật tít khác đi một chút, thể hiện lập trường tư tưởng nghệ thuật của một nhóm văn nghệ sĩ, kiên trì với quan điểm cũ.

Xung quanh cuộc tranh luận, trao đổi ý kiến này, chúng ta ngày nay có thể rút ra những bài học bổ ích về văn hoá tranh luận, bước tiến trong quá trình tiếp cận tư tưởng học thuật của mỗi bên. Nếu như một số khía cạnh trong bản chất quan điểm nghệ thuật của họ vẫn còn những khác biệt (về quan hệ giữa tính dân tộc với tính người, tính nhân loại; về giá trị trước mắt, đề tài thời sự và giá trị lâu dài, đề tài vĩnh cửu..., thì ở một số điểm khác đã thấy họ biểu hiện sự xích lại gần nhau, tiếp thu những mặt khả thủ của nhau. Chẳng hạn, yêu cầu về sự thống nhất, không thể tách rời giữa nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm; về mục đích chung có tính chất tổng thể mà văn chương nghệ thuật hướng tới là Chân, Thiện, Mỹ chứ không thể biệt lập tách riêng một phương diện nào; về bản thể sinh tồn của văn học là vì con người, cho con người; về yêu cầu không thể thiếu được của tài năng, cá tính sáng tạo độc đáo, giọng điệu riêng của bản lĩnh cầm bút. Những bài viết của Lan Khai tham gia tranh luận tuy không tránh khỏi phiến diện, cực đoan “nghệ thuật vị nghệ thuật”, song ông đã đi sâu vào những khía cạnh khác, xác đáng bàn về bản sắc dân tộc của văn hoá, văn nghệ, về thiên chức cao cả của văn nghệ sĩ, về đòi hỏi cao đối với tài năng và lao động nghệ thuật...

Là một tạp chí ra hàng tháng, định kỳ, song Tao Đàn vẫn chú ý đến những bài viết ngắn gọn trong phần Tạp ký, trong mục Điểm sách, Giới thiệu sách mới, Thư cho bạn. Với tác giả trẻ, tạp chí dành một sự ưu ái trong phê bình, thư từ trao đổi. Bài viết của Hoài Thanh về Một nhà thơ nhiều hi vọng: ông Phan Khắc Khoan và các bức thư của Lan KhaiGửi một bạn trẻ muốn theo đuổi nghề viết văn, Thư cho bạn... cho thấy trách nhiệm và tấm lòng của thế hệ đàn anh đối với việc phát hiện, bồi dưỡng tài năng trong lực lượng trẻ là cần thiết đến nhường nào!
Như trên đã nói, Tao Đàn dành trọng tâm cho phần Nghệ thuật  tức là dành nhiều số trang để đăng các sáng tác của các tác giả trong mỗi số. Trước hết là văn xuôi; người đọc có dịp thưởng thức văn tài của các cây bút quen thuộc như Vũ Trọng Phụng, Lan Khai...

Trên nhiều kỳ của Tạp chí, Lan Khai đã cho đăng những sáng tác mới của ông gồm truyện ngắn, truyện vừa như Lấy vợ cócĐồng tiền Vạn Lịch, Cái ám ảnh, Mọi rợ... hoặc tuỳ bút như Đau và chết. Truyện ngắn thuộc di cảo của Vũ Trọng Phụng, nhờ tạp chí Tao Đàn, đã đến với độc giả ngay sau ngày nhà văn họ Vũ yểu mệnh. Đặc biệt, cây bút mới Nguyễn Tuân xuất hiện đều đặn, liên tục. Với loạt 10 truyện ngắn - thường xuyên được đăng trọn vẹn trong mỗi số - dưới đề mục Vang bóng một thời. Nguyễn Tuân đã gây được ấn tượng mạnh mẽ trong người đọc về một cây bút văn xuôi có nghề, tài hoa, kỹ lưỡng trong câu chữ, diễn đạt. Chỉ một năm sau, vào năm 1940, các truyện ngắn đã in trên Tao Đàn của ông đã được tập hợp lại in thành sách dưới tựa đề “Vang bóng một thời. Như đánh giá của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, đây là “một tập rất quý”, giá trị của nó “sẽ còn tăng lên mãi với thời gian” vì “văn phẩm gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ” (*). Quả thực, loạt truyện này là đỉnh cao của tài năng Nguyễn Tuân, in đậm dấu ấn phong cách truyện ngắn không thể trộn lẫn của ông. Viết về những cái đã qua của một thời dĩ vãng,bằng giọng văn thành kính, trầm lắng và đượm buồn, cảm phục xen lẫn nuối tiếc, hoài niệm về cái đẹp của người và cảnh, của nghiệp dĩ và nếp sinh hoạt của cha ông ngày trước, truyện Nguyễn Tuân tạo được đồng cảm về sự liên tài, về những giá trị nhân bản đích thực như một di sản do tiền nhân để lại mà con cháu không thể để bị mai một do bụi thời gian.

Sau văn xuôi là kịch. Toan Ánh và Vũ Trọng Phụng là 2 tác giả kịch bản văn học có tác phẩm được đăng tải trọn vẹn qua nhiều kỳ tạp chí.
Trên những trang dành cho thơ, người đọc gặp lại các nhà thơ mới khá quen biết: Đông Hồ, Lưu Trọng Lư, Trần Huyền Trân, Phạm Hầu. Lưu Kỳ Linh... Một số bài hay của các thi sĩ này, mấy năm sau đó được Hoài Thanh - Hoài Chân chọn đưa vào hợp truyển bất hủ Thi nhân Việt (1932 - 1941)
Có thể nói với những ngày tháng làm Tạp chí Tao Đàn, Lan Khai đã được thoả nguyện, thể hiện đầy đủ tâm huyết và chí bình sinh của mình góp công sức vào xây dựng một nền văn chương giàu bản lĩnh tinh thần dân tộc Việt Nam, đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc, cả trong tư duy về nghệ thuật cũng như trong thành tựu sáng tác.

Tao Đàn
 như một ngôi sao băng,vụt hiện trên bầu trời văn học nước ta trong những ngày giông bão chiến tranh đang vần vụ, nhưng ánh sáng chói ngời của nó đã toả rạng, để lại dấu ấn khó quên trong tâm thức giới sáng tác và người đọc đương thời cũng như rất lâu về sau đến tận hôm nay.
Thành công của Tao Đàn là đáng kể, có thể nói là do thực hiện sát sao tôn chỉ đặt ra là phấn đấu xây dựng nền văn chương nghệ thuật mang dấu ấn đặc sắc của dân tộc. Do đó, nó đã thu hút, gây được cảm mến trong đội ngũ cộng tác viên, nghệ sĩ tên tuổi. Họ đã tích cực đóng góp bài vở công phu, tâm huyết cho các chuyên mục định hình của tạp chí. Tên tuổi của những học giả, văn nghệ sĩ xuất hiện trên Tao Đàn, trong đó có vai trò không nhỏ của Lan Khai với tư cách vừa là người định hướng tổ chức bài vở của Tạp chí liền trong 10 số đầu, vừa là nhà sáng tác văn xuôi, một cây bút tuỳ bút, tiểu luận - phê bình, là những tên tuổi sáng giá của nền văn chương, học thuật Việt Nam thời kỳ rực rỡ nhất thuộc nửa đầu thế kỷ XIX. Các thế hệ sau khi tìm hiểu chân dung tinh thần và sáng tác của họ, không thể không lần giở Tao Đàn, tìm đọc những bài của họ xuất hiện lần đầu trên tờ Tạp chí văn học thân thuộc và nổi tiếng này.
 Hà Nội, 24 tháng 6 năm 2006
         N.N.T
(Nguồn: TCSH số 211 - 09 - 2006)




-------------
(*) Nhà văn hiện đại, Nhà xuất bản Tân Dân Hà Nội, 1942; Nhà xuất bản Khoa học xã hội tái bản, Hà Nội, 1989, tập I, tr.415.